Ba định hướng đưa chuỗi giá trị sầu riêng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc

CCIC đề xuất chuyển từ giao dịch sầu riêng tươi sang hợp tác xây dựng chuỗi giá trị, tập trung vào chất lượng, logistics, thương hiệu, tài chính và chuyển đổi số.
Tại Chương trình “Gặp gỡ, giao thương, kết nối hợp tác chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc, tỉnh Đắk Lắk năm 2026” ngày 19/8, bà Tăng Hiểu Ngọc, đại diện Tập đoàn Chứng nhận và Giám định Trung Quốc (CCIC), nhận định: Ngành sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc đang đứng trước cơ hội chuyển từ giao dịch thương mại đơn thuần sang hợp tác sâu hơn trong tổ chức và nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị.
Theo bà, Việt Nam hiện sở hữu 3 yếu tố tiềm năng về nhu cầu tiêu dùng, thuận lợi từ chính sách và lợi thế vùng nguyên liệu. Người tiêu dùng Trung Quốc ngày càng quan tâm đến chất lượng, an toàn, nguồn gốc và thương hiệu, đòi hỏi sầu riêng Việt Nam phải nâng cao giá trị.
"CCIC định hướng hợp tác theo quan điểm 'Không chỉ là một thương vụ thu mua, mà là cùng kiến tạo chuỗi ngành', tập trung xây dựng chất lượng ngay từ nguồn, nâng hiệu quả toàn chuỗi và gia tăng giá trị cho các chủ thể tham gia. Trong đó, trọng tâm đầu tiên là đảm bảo chất lượng vùng nguyên liệu thông qua tối ưu giống, hoàn thiện tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật và ứng dụng công nghệ số trong giám sát sản xuất.
Cùng với đó, hoàn thiện logistics và chuỗi lạnh, với kho lạnh tại vùng nguyên liệu, hệ thống bảo quản xuyên suốt quá trình vận chuyển và cơ chế điều phối thông minh nhằm giữ trọn vẹn độ tươi. Hệ thống truy xuất nguồn gốc cũng cần được số hóa để mỗi lô hàng có thể kiểm nghiệm và từng sản phẩm có thể xác định rõ nguồn gốc", đại diện CCIC chia sẻ.
Bà Tăng Hiểu Ngọc đồng thời nhấn mạnh vai trò của phân phối và thương hiệu. Trung Quốc có mạng lưới cung tiêu và phân phối rộng, gồm gần 30.000 đơn vị hợp tác xã cung tiêu cơ sở, hàng trăm nghìn điểm bán lẻ và hơn 3.000 chợ đầu mối. Đây là lợi thế để Việt Nam mở rộng khả năng tiếp cận người tiêu dùng, kể cả tại các thị trường cấp huyện. Theo CCIC, kênh phân phối quyết định sản lượng, trong khi thương hiệu quyết định giá trị; do đó cần kết hợp phân phối trực tiếp, kênh trực tuyến và marketing.
Tài chính và quản trị rủi ro cũng là mắt xích cần được củng cố. Các cơ chế tài trợ đơn hàng, tín dụng dựa trên chứng từ kho và sản phẩm tài chính phù hợp có thể giảm áp lực vốn cho nông hộ, doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến và lưu thông, đồng thời hỗ trợ ứng phó với biến động giá.
Về dài hạn, hợp tác cần vượt ra ngoài xuất khẩu trái tươi, hướng tới xây dựng hệ sinh thái giá trị cao thông qua chế biến sâu, phát triển nguyên liệu cho ngành thực phẩm, du lịch nông nghiệp và các lĩnh vực tiềm năng. Doanh nghiệp hai nước có thể liên doanh, cùng đầu tư tại vùng trồng trọng điểm và chia sẻ lợi ích, rủi ro trong dài hạn.
Một định hướng quan trọng khác là xây dựng nền tảng số kết nối vùng trồng, kho bãi và thị trường. Dữ liệu về đất đai, khí hậu, sâu bệnh, nhu cầu tiêu dùng, giá cả, đơn hàng, logistics và tồn kho sẽ được chia sẻ để hỗ trợ quyết định sản xuất, điều phối chuỗi và tối ưu nguồn lực.
Trước mắt, hai bên cần xây dựng các mô hình trình diễn canh tác chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu vùng trồng tại Việt Nam và hệ thống kho tại cửa khẩu Trung Quốc. Về dài hạn, mục tiêu là xây dựng một đến hai thương hiệu sầu riêng có ảnh hưởng tại thị trường Trung Quốc, qua đó chuyển lợi thế về vùng nguyên liệu và sản lượng thành giá trị thương hiệu, nâng hợp tác Việt Nam - Trung Quốc từ giao dịch hàng hóa lên liên kết chuỗi giá trị và hợp tác ngành có chiều sâu.