🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Bản tin Truyền hình Nông nghiệp và Môi trường số 32/2026

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Bản tin Truyền hình Nông nghiệp và Môi trường số 32/2026

Bản tin mang tới những thông tin ngành nông nghiệp, môi trường đáng chú ý diễn ra trong tuần. Mời quý vị đón xem!

MC: Thưa quý vị! Mã số vùng trồng đang trở thành tấm ‘hộ chiếu’ chiến lược để nông sản Việt vươn tới những thị trường khó tính bậc nhất. Tuy nhiên, hành trình chạm tay vào tấm vé này trước đây từng bị rào cản bởi vô vàn thủ tục chồng chéo. Nghị quyết 36 của Chính phủ xuất hiện như một làn gió mới, số hóa toàn bộ quy trình, đơn giản hóa và tăng tốc vượt trội. Đây chính là bệ phóng quan trọng để minh bạch hóa chuỗi giá trị và nâng tầm thế mạnh nông sản Việt. Mời quý vị và các bạn cùng theo dõi phóng sự do Báo NN&MT thực hiện.

Intro:

Mã số vùng trồng là tọa độ trả lời cho mọi truy vết của người tiêu dùng.

Phía sau con số đó là mồ hôi của người trồng, là quy trình canh tác khắt khe và hành trình vươn ra biển lớn.

Nghị quyết 36 của Chính phủ ra đời như một bước ngoặt đơn giản thủ tục, số hóa quy trình, trao quyền về tận cấp xã.

Một cuộc cải cách đang âm thầm thổi luồng sinh khí mới, bắt đầu từ chính những mảnh vườn.

Lên title:MÃ SỐ VÙNG TRỒNG MỞ RÀO CẢN,

BỨT PHÁ GIÁ TRỊ

Gần 4 ha bưởi Diễn và bưởi đỏ xum xuê quả là thành quả lao động của ông Nguyễn Xuân Thống, thành viên Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Tân, tỉnh Phú Thọ. Toàn bộ nguồn nông sản này đều được kết nối bài bản thông qua chuỗi liên kết của hợp tác xã.

Khác với cách làm truyền thống, bước chân vào chuỗi liên kết đòi hỏi người trồng phải tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực về an toàn và chất lượng. Đối với ông Thống, mã số vùng trồng không phải là mảnh giấy vô hồn nằm ngoài vườn cây mà là kim chỉ nam để tái cơ cấu lại sản xuất, mở lối cho nông sản đặt chân vào các hệ thống phân phối cao cấp.

Ông NGUYỄN XUÂN THỐNG

Thành viên Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Tân, tỉnh Phú Thọ

“Mã số vùng trồng thì nói chung là thứ nhất là ở xã, xã tạo điều kiện để cho Hội hợp tác xã, thành viên hợp tác xã thuận lợi và từ khi tôi vào và cái này là vào cái cái hợp tác xã này để là trồng cây hữu cơ, như này là nói chung là hiệu suất cao và được tất cả hội viên tạo cây trồng có hiệu quả cao để xuất khẩu là nói chung là càng ngày càng tốt”.

Mã số chỉ thực sự phát huy giá trị khi đặt trong một hệ sinh thái sản xuất có tổ chức. Từ mỗi người nông dân, hợp tác xã cho đến chính quyền địa phương, tất cả đang cùng chung tay kiến tạo nên một vùng nguyên liệu chuẩn mực, đáp ứng khắt khe mọi đơn đặt hàng của thị trường.

Nếu trước đây, để có được tấm giấy công nhận, người dân phải trải qua biết bao quy trình thẩm định phức tạp thì nay, Nghị quyết 36 đã dội một luồng sinh khí mới bằng việc cắt giảm tối đa các thủ tục rườm rà.

Hồ sơ gọn nhẹ đến mức tối đa là chỉ còn duy nhất ngoài đơn đề nghị. Những dữ liệu đã nằm trong hệ thống quốc gia sẽ không bắt người dân phải kê khai hay nộp lại. Tất cả thao tác được đưa lên môi trường số.

Đặc biệt, thời gian thẩm định đối với trường hợp không xuất khẩu được rút ngắn kinh ngạc từ 14 ngày làm việc xuống chỉ còn 3 ngày. Với nông sản xuất khẩu sang các thị trường tiêu chuẩn, thời gian cũng được tối ưu chỉ còn 10 ngày.

Đó không chỉ đơn thuần là bài toán giảm bớt giấy tờ. Đó là sự chuyển dịch mạnh mẽ trong tư duy quản lý từ hồ sơ giấy sang dữ liệu số, từ quản lý tập trung sang phân cấp triệt để và từ tiền kiểm cứng nhắc sang hậu kiểm linh hoạt.

Ông NGUYỄN HOÀNG HIỆP

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường

“Lần này đấy là thủ tục hành chính, là rút gọn và thực hiện toàn trình và mã số vùng trồng được cấp theo định danh vị trí định danh của thửa đất trong trường hợp vị trí định danh của thửa đất mà chưa có, chưa xác định hoặc là đã xác định nhưng mà chưa có trên cổng thông tin quốc gia đấy thì Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận cho người có nhu cầu cấp để từ đó là chúng ta tiến hành cấp mã số vùng trồng thì đây là những cái quan điểm rất mới và nếu chúng ta giải nếu mà làm đồng bộ như thế này trong toàn quốc thì những cái mà khó khăn, vướng mắc từ trước đến giờ thì sẽ được giải quyết dứt điểm.”

Một thay đổi khác có tác động trực tiếp tới người sản xuất là bãi bỏ quy định về diện tích tối thiểu. Điều này mở rộng khả năng cấp mã số cho nhiều loại hình sản xuất, trong đó có những diện tích nhỏ, cây trồng xen canh hoặc những vùng sản xuất được tổ chức theo nhu cầu thực tế.

Nhưng, bỏ diện tích tối thiểu không có nghĩa là bỏ yêu cầu về tổ chức sản xuất. Bởi, với những thị trường xuất khẩu, điều quan trọng không chỉ là có mã số, mà còn phải hình thành được vùng nguyên liệu đủ khả năng cung ứng ổn định.

Ông ĐỖ QUỐC HƯƠNG

Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Tân, tỉnh Phú Thọ

“Nhưng bây giờ thì cái Nghị quyết 36 này nó có cái hay là không cần phải liền kề và diện tích cũng không cần phải là là là lớn lắm, có thể là 23H nếu hộ gia đình có thể là 23H là người ta cũng đã đăng ký được cái cái cái mã vùng chồng rồi thì cũng là rất là thuận lợi thì tạo điều kiện để cho bà con họ khai thác và họ sẽ triển khai hết cái tiềm năng mà phát triển kinh tế cho địa phương người ta theo xác mình có bao nhiêu thành viên.”

Từ những mảnh vườn manh mún, người nông dân giờ đây đã có chiếc ‘căn cước’ chính thức cho sản phẩm của mình. Nhưng để vươn tầm ra thế giới hay đứng vững ở sân nhà, bài toán liên kết quy mô lớn vẫn là mệnh lệnh thời đại.

Chính vì thế, Nghị quyết 36 vừa xé nhỏ rào cản cho từng hộ, vừa tạo đà kích hoạt các vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, tạo lực đẩy liên kết để gia tăng sức cạnh tranh.

Điểm đột phá chiến lược của Nghị quyết 36 nằm ở việc trao trọn thẩm quyền cấp, cấp lại mã số cho Chủ tịch UBND cấp xã. Cấp cơ sở vừa là nơi trao quyền, vừa là tuyến đầu trong việc hậu kiểm, theo dõi và xử lý vi phạm.

Ông NGUYỄN HOÀNG HIỆP

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường

“Trong nghị quyết lần này đấy thì để phục vụ cho cải cách hành chính thì chúng ta Chính phủ quy định là cơ bản là hậu kiểm, chỉ tiền kiểm, khi mà các cái nước có nhu cầu nhập khẩu họ quy định thì mới mới tìm kiếm và cũng quy định rõ thời gian hậu kiểm và tìm kiếm tìm kiếm thì mười ngày hậu kiểm thì sau ba tháng thì anh phải đi hậu kiểm và và trong cái trường hợp mà hậu kiểm thì cũng sau ba tháng đó thì cũng phải trả lời rõ người dân. Đấy là các cái quy định chung lần này. Tuy nhiên thì trong nghị quyết cũng quy định rất rõ là để đảm bảo minh bạch, công khai, đặc biệt là nâng cao trách nhiệm của hệ thống, trong đó có cả người sản xuất, rồi cơ quan quản lý cũng như là các cái doanh nghiệp, các hợp tác xã đấy thì lần này quy định rất rõ là trách nhiệm của người kê khai khi mà xin cấp mã số vùng châu, tức là những cái thông tin như đấy anh phải khẳng định là đúng”

Hiện, quy trình đã được đưa lên môi trường số. Nhưng một thủ tục trực tuyến chỉ thực sự đơn giản nếu người dân có thể tiếp cận và sử dụng dễ dàng được. Trong nông nghiệp, điều này càng đáng lưu ý bởi trình độ và điều kiện tiếp cận công nghệ giữa các vùng sản xuất còn khác nhau. Vì thế, cùng với cải cách thủ tục, việc hướng dẫn người dân thao tác trên hệ thống trở thành một phần không thể thiếu.

Ông LÊ QUỐC THANH

Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

“Nếu như mà các cái vùng trồng lớn bà con đã được tiếp cận với cái môi trường số cũng như là tiếp cận được các giải pháp công nghệ thì việc này khá là đơn giản. Tuy nhiên thì còn rất nhiều những bà con rất nhiều những vùng trồng xa xôi hoặc là những cái vùng hẻo lánh mà chúng ta chưa được tiếp cận với các cái giải pháp công nghệ như thế này thì rất cần thời gian, rất cần những lực lượng đồng hành. Chính vì vậy nên chúng tôi thấy được vai trò và trách nhiệm của các cái lực lượng của Bộ Nông nghiệp, Môi trường và đặc biệt là của khuyến nông quốc gia và chúng tôi sẽ kích hoạt cái hệ thống này. Làm sao để luôn luôn có được một cái lực lượng hỗ trợ, đồng hành tư vấn cho bà con nông dân ở những cái vùng mà còn có những cái khó khăn cả thế.”

Đồng hành cùng người dân không dừng lại ở câu chuyện nộp một bộ hồ sơ. Đó là sự chuyển đổi thói quen gồm hướng dẫn khai báo, cập nhật dữ liệu và làm chủ trách nhiệm trong phương thức quản lý mới. Có như vậy, chuyển đổi số mới thực sự trở thành đòn bẩy rút ngắn mọi khoảng cách chính sách.

Khi dòng dòng chảy dữ liệu được kết nối thông suốt, truy xuất nguồn gốc sẽ không còn là tấm lá chắn đối phó. Nó trở thành thước đo minh bạch cho toàn bộ chuỗi giá trị từ bờ ruộng đến nhà máy, từ doanh nghiệp đến bàn ăn của người tiêu dùng.

Nghị quyết 36 làm thay đổi thời gian, nhưng quan trọng hơn là tái cấu trúc toàn bộ phương thức quản trị nông nghiệp. Dữ liệu số hóa, phân cấp rõ ràng, tăng cường hậu kiểm. Tuy nhiên, để bộ máy này vận hành trơn tru, các địa phương rất cần một hành lang hỗ trợ vững chắc về cả nghiệp vụ lẫn hạ tầng công nghệ.

Ông HUỲNH TẤN ĐẠT

Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật

“Thứ nhất là Cục sẽ đầu tiên sẽ phải cùng phối hợp với Khuyến nông để hoàn thiện toàn bộ các cái tài liệu tập huấn, hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân trong việc tuân thủ các nghị quyết này, bao gồm từ cái khâu đăng ký để cấp mã số công trường, cơ sở hóa theo cái dịch vụ công trực tuyến. Cái thứ hai là Cục cũng sẽ hướng dẫn với các cấp xã, rồi các cái lực lượng có liên quan để hỗ trợ cấp xã trong vấn đề triển khai thực hiện tâm mại, đó là các cái đoàn thanh niên, rồi Hội nông dân. Thế rồi các cái cơ quan chiến đầu cấp xã, rồi là các cái đơn vị mà thuộc chính quyền địa phương có thể hỗ trợ đồng hành với cấp xã.”

Mục tiêu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đưa quy định mới vào thực tế ngay sau khi được ban hành. Không chỉ cấp mã nhanh hơn, mà còn phải bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, sạch và được cập nhật nhanh chóng. Bởi, khi mã số được kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc, chất lượng của dữ liệu sẽ quyết định chất lượng của cả hệ thống.

Từ một thủ tục hành chính, mã số vùng trồng đang trở thành một mắt xích trong cách thức quản lý nông nghiệp mới. Ở đó, người sản xuất được tạo thuận lợi hơn để đăng ký; chính quyền cơ sở được trao thêm trách nhiệm; dữ liệu vùng trồng được kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Nhưng đích đến của cải cách không phải là có thật nhiều mã số. Mà đích đến là mỗi mã số phải gắn với một vùng sản xuất thực chất, một nguồn dữ liệu đáng tin cậy và một chuỗi sản phẩm có thể truy xuất. Khi đó, sự minh bạch không chỉ phục vụ một đơn hàng xuất khẩu mà trở thành nền tảng để nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên cả thị trường trong nước và quốc tế.