Cách nào giải mối lo chất lượng nhân lực ngành nông nghiệp?

Chuyên gia cho rằng, ngành thiết yếu khó tuyển cần được hỗ trợ bằng học bổng, đặt hàng nhân lực và đổi mới đào tạo, thay vì hạ điểm chuẩn để lấp đầy chỉ tiêu.
Điểm chuẩn 15-16 ở một số ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên, môi trường đang đặt các cơ sở đào tạo trước bài toán khó: làm thế nào duy trì nguồn tuyển nhưng không vì thiếu người học mà hạ thấp yêu cầu đào tạo.
Các chuyên gia cho rằng giải pháp không thể dừng ở việc tìm cách tuyển thêm người, mà cần thay đổi đồng bộ từ tuyển sinh, tổ chức đào tạo đến chính sách học bổng, đặt hàng nhân lực và việc làm sau tốt nghiệp.
Hỗ trợ người học, giữ chuẩn đầu ra
NGND.GS.TS. Trần Văn Chứ, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Lâm nghiệp cho rằng cần chuyển từ “cứu tuyển sinh” sang đầu tư cho chuỗi nhân lực thiết yếu. Thay vì chỉ công bố điểm chuẩn, mỗi ngành cần minh bạch thêm số sinh viên nhập học, tỷ lệ duy trì sau năm thứ nhất, tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn, việc làm đúng hoặc gần chuyên môn và thu nhập sau tốt nghiệp. Những dữ liệu này giúp thí sinh nhìn rõ hơn triển vọng của ngành trước khi lựa chọn.
Một hướng khác được ông Chứ đề xuất là tuyển theo nhóm ngành rộng trong năm đầu. Sinh viên trước hết học kiến thức nền tảng về khoa học, dữ liệu và kỹ năng nghề, sau đó mới phân ngành theo năng lực và trải nghiệm thực tế. Cách làm này giúp người trẻ giảm rủi ro khi phải lựa chọn một chuyên ngành quá "hẹp" ngay ở tuổi 18. Tuy nhiên, chỉ tiêu từng ngành phải được công khai, tránh dùng ngành có sức hút để tuyển người rồi phân bổ sang ngành khó tuyển.
Đặc biệt, với những ngành có đầu vào 15-16 điểm, các trường cần tăng hỗ trợ ngay từ năm đầu bằng việc khảo sát năng lực, củng cố toán, khoa học, dữ liệu, ngoại ngữ và kỹ năng tự học. Theo GS. Chứ, hỗ trợ phải tăng nhưng chuẩn tốt nghiệp không được giảm. Sinh viên chưa đạt yêu cầu cần được phụ đạo, cố vấn và sàng lọc theo từng giai đoạn, thay vì hạ yêu cầu để giữ tỷ lệ tốt nghiệp.
PGS.TS Nguyễn Công Tiệp, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cũng cho rằng không thể chỉ chờ thí sinh tự tìm đến. Với những ngành có quy mô tuyển sinh chưa cao, cơ sở đào tạo phải rà soát chương trình, cơ cấu chuyên ngành và phương thức đào tạo, gắn với những phân khúc thị trường đang cần nhân lực. Mục tiêu không phải tuyển thật nhiều sinh viên bằng mọi giá mà thu hút đúng người và tạo ra giá trị thực cho người học.
Theo ông, chương trình cần tích hợp công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học và dữ liệu, đồng thời tăng thời lượng học qua dự án, thực hành tại doanh nghiệp, trang trại, hợp tác xã.
Hướng nghiệp cũng cần đi vào trải nghiệm thực tế, để học sinh được tiếp cận phòng thí nghiệm, trang trại công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và doanh nghiệp trước khi quyết định chọn ngành.
Từ thực tế sản xuất, ông Nguyễn Trọng Thành, Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Phú Lương (xã Bắc Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên) cho rằng đào tạo nông nghiệp cần giảm khoảng cách giữa giảng đường và thực địa. Sinh viên cần trực tiếp ra đồng ruộng, trang trại, hợp tác xã, vừa thực hành vừa trao đổi với người sản xuất để hiểu vấn đề thực tế, thay vì chủ yếu học lý thuyết hoặc thực hành trên mô phỏng.
Theo ông Thành, hướng nghiệp cũng cần giúp học sinh cân nhắc đồng thời ba yếu tố: năng lực, sở thích và nhu cầu xã hội. Đây là cách để nguồn tuyển không chỉ tăng về số lượng mà còn phù hợp hơn với ngành học và công việc sau này.
Đặt hàng đào tạo phải gắn với việc làm
Bên cạnh đổi mới tuyển sinh và đào tạo, ông Hoàng Xuân Trường, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống nông nghiệp, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho rằng không ít ngành xã hội rất cần nhưng thị trường tuyển sinh chưa đủ hấp dẫn, cần có cơ chế đặt hàng đào tạo.
Các địa phương có thể xác định nhu cầu nhân lực trong 5-10 năm đối với kỹ sư nông nghiệp, thú y, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên, môi trường, công nghệ chế biến, quản trị hợp tác xã hay chuyển đổi số nông nghiệp.
Trên cơ sở đó, đặt hàng các trường đào tạo gắn với học bổng, hỗ trợ học phí và cam kết việc làm. Với miền núi, vùng khó khăn, có thể bổ sung hỗ trợ sinh hoạt, ký túc xá, thực tập và ưu tiên tuyển dụng sau tốt nghiệp.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Trọng Thành cũng đề xuất cơ chế đặt hàng gắn chặt với đầu ra. Theo đó, Nhà nước, địa phương hoặc đơn vị có nhu cầu nhân lực có thể cấp học bổng toàn phần cho người học nhưng đi cùng cam kết làm việc trong thời gian nhất định sau tốt nghiệp. Cách làm này vừa giúp người học giảm gánh nặng tài chính, vừa tạo sự yên tâm về cơ hội nghề nghiệp.
Với học bổng, GS. Trần Văn Chứ lưu ý mục tiêu phải là thu hút người có năng lực chứ không đơn thuần lấp đầy lớp học. Học bổng toàn phần hoặc bán phần có thể ưu tiên thí sinh có thế mạnh về toán, khoa học tự nhiên, công nghệ, ngoại ngữ và cam kết theo học những ngành thiết yếu.
Ngược lại, cơ sở đào tạo cũng không nên duy trì bằng mọi giá những ngành liên tục có quá ít sinh viên. Theo GS. Chứ, những chương trình này cần được đánh giá lại để liên kết giữa các trường, dùng chung học phần, phòng thí nghiệm, giảng viên hoặc tập trung đào tạo tại cơ sở có thế mạnh. Nếu quy mô không đủ bảo đảm môi trường học thuật và chất lượng, cần tái cấu trúc hoặc tạm dừng thay vì hạ chuẩn để duy trì.
Với kinh nghiệm 20 năm công tác trong ngành kiểm lâm tại Chi cục Kiểm Lâm Lai Châu trước khi chuyển sang kinh doanh, ông Nguyễn Hữu Hiện cho rằng học bổng mới giải quyết được một phần bài toán. Với những nghề phải làm việc tại miền núi, vùng sâu, vùng xa như kiểm lâm, điều người trẻ quan tâm còn là thu nhập, phụ cấp, điều kiện làm việc và con đường phát triển lâu dài.
Vì vậy, nếu Nhà nước đặt hàng đào tạo, cần xác định ngay vị trí việc làm và chính sách đãi ngộ sau tốt nghiệp. Khi người học nhìn thấy rõ nơi mình sẽ làm việc, mức thu nhập và cơ hội phát triển, họ mới có thêm lý do để lựa chọn và gắn bó với nghề.
Quan điểm này cũng trùng với đề xuất của GS. Trần Văn Chứ: học bổng có thể kèm cam kết làm việc tại vùng khó khăn, cơ quan khí tượng - thủy văn, kiểm lâm, đơn vị tài nguyên hoặc doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, nhưng phải đi cùng vị trí việc làm, lương, phụ cấp, nhà ở và lộ trình thăng tiến đủ sức cạnh tranh.
Như ông Hoàng Xuân Trường nhấn mạnh, mục tiêu cuối cùng không phải tuyển được thật nhiều sinh viên mà là tuyển đúng người, đào tạo được người giỏi và giữ họ ở lại với ngành. Vì vậy, thay vì tìm cách nâng điểm chuẩn một cách cơ học, cần nâng giá trị nghề nghiệp bằng chất lượng đào tạo, việc làm, thu nhập và cơ hội phát triển. Khi nghề đủ hấp dẫn, nguồn tuyển sẽ được cải thiện mà không phải đánh đổi chuẩn chất lượng nhân lực.