🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Kỹ thuật canh tác

Cần mở rộng canh tác giảm phát thải sang các cây trồng chủ lực

Cập nhật: Báo Nông nghiệp và Môi trường
Cần mở rộng canh tác giảm phát thải sang các cây trồng chủ lực

Cần mở rộng canh tác giảm phát thải sang các cây trồng chủ lực

GS.TS Nguyễn Văn Tuất - Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam (VNPPA) cho rằng, đầu tư xanh đang là xu hướng chủ đạo toàn cầu được các khu vực như EU, APEC, ASEAN đặc biệt quan tâm.

Tại Việt Nam, thúc đẩy đầu tư xanh gắn liền với cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại hội nghị COP26 và Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, Danh mục phân loại xanh tại Quyết định 21 của Thủ tướng đã tạo khung tham chiếu quan trọng để định hướng dòng vốn vào các dự án thân thiện với môi trường.

Nông nghiệp là ngành phát thải khí nhà kính đáng kể khi chiếm khoảng 19% tổng phát thải quốc gia, chủ yếu từ sản xuất lúa nước, chăn nuôi và sử dụng phân bón hóa học. Đặc biệt, Việt Nam là một trong những nước sản xuất lúa nước lớn nhất thế giới, chỉ đứng sau Ấn Độ, Myanmar và Thái Lan.

Bên cạnh đó, sức ép từ thị trường quốc tế ngày càng lớn khi các đối tác nhập khẩu lớn như EU áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn xanh như quy định chống phá rừng EUDR hay chiến lược từ trang trại đến bàn ăn (Farm-to-Fork).

Do đó, việc chuyển đổi xanh nông nghiệp là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và cấp bách. Chuyển đổi xanh hiện nay đã trở thành yêu cầu bắt buộc để duy trì và mở rộng thị phần xuất khẩu.

Mở rộng đối tượng giảm phát thải

GS.TS Nguyễn Văn Tuất cho biết, trên lúa hiện nay, kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ (AWD) giúp tiết kiệm nước, giảm chi phí năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính khoảng 2 đến 4 tấn CO2 quy đổi/ha/vụ. Chưa kể việc ứng dụng công cụ trực quan là bảng so màu lá lúa để giúp nông dân kiểm soát lượng đạm bón vào ruộng. Điều này giúp ngăn chặn tình trạng bón thừa phân đạm hóa học, từ đó giảm thiểu phát thải khí metan (CH4) - loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính mạnh gấp 28 lần so với khí CO2.

Ngoài ra, việc sử dụng các loại phân bón thế hệ mới như phân ure trộn hoạt chất ức chế men urease (Agrotain) hay phân Entec giúp giảm 20 - 25% lượng đạm cần bón, bón phân hữu cơ kết hợp luân canh cây trồng cũng giúp cây lúa giảm phát thải.

Điểm nghẽn lớn hiện nay là các chương trình giảm phát thải hầu như mới chỉ tập trung vào cây lúa mà chưa chú trọng tới các nhóm cây xuất khẩu chủ lực khác.

Khác với cây lúa đã có bảng so màu lá để bón phân đạm, các nhóm cây trồng cạn hiện nay còn thiếu các hướng dẫn hoặc công cụ trực quan chính thống để nông dân tự theo dõi thừa, thiếu dinh dưỡng.

Đo đó, cần chuyển giao các bài học kinh nghiệm từ các mô hình trên cây lúa và Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới (đã được triển khai tại Quảng Trị, Thanh Hóa, Hà Giang cũ, Tuyên Quang, Hòa Bình cũ và Phú Thọ) sang cho cây ăn quả và cây công nghiệp.

Các kỹ thuật chủ yếu bao gồm quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), giảm lượng giống, chọn cây giống khỏe mạnh, sạch sâu bệnh ngay từ đầu, điều chỉnh chế độ nước và bón phân hợp lý. Các biện pháp này giúp cây trồng cạn giảm phát thải được khoảng 2 đến 3 tấn CO2 quy đổi/ha/vụ, tương đương một nửa mức giảm trên cây lúa.

Giải quyết phụ phẩm, tăng sản phẩm sinh học

Theo thống kê, Việt Nam phát sinh tổng lượng phụ phẩm hữu cơ ước tính khoảng 156,8 triệu tấn mỗi năm chưa được khai thác triệt để, bao gồm rơm rạ, phân gia súc gia cầm, bùn ao nuôi thủy sản, phụ phẩm rau quả, bã mía, vỏ cà phê, bã sắn... Trong đó lượng rơm rạ sau thu hoạch đạt khoảng 45 triệu tấn/năm, riêng vùng ĐBSCL chiếm 24 triệu tấn.

GS Nguyễn Văn Tuất bày tỏ lo ngại trước thực tế canh tác cũ khi có tới 25% lượng rơm rạ bị đốt ngay tại ruộng gây khói bụi, thải khí độc hại PM2.5, phát thải CO, CO2 và 39% bị vùi ngập nước sinh ra khí metan.

Theo ông, giải pháp sinh học tối ưu là sử dụng nấm đối kháng Trichoderma để ức chế phân hủy yếm khí rơm rạ ngay tại ruộng. Nếu xử lý hiệu quả 40 triệu tấn rơm rạ bằng công nghệ sinh học, sẽ thu hồi được 20 triệu tấn phân hữu cơ, tương đương tiết kiệm khoảng 11.000 tỷ đồng tiền mua phân hóa học.

Đối với các sản phẩm sinh học, Việt Nam dẫn đầu khu vực ASEAN về số lượng và chủng loại thuốc BVTV sinh học đăng ký sử dụng. Giá trị thị trường thuốc sinh học tăng mạnh từ 30,7 triệu USD năm 2019 lên 65,7 triệu USD năm 2024, các năm gần đây tiếp tục tăng với tốc độ hơn 16,4% mỗi năm.

Công nghệ sản xuất thuốc sinh học trong nước hiện nay đang phát triển ở ba mảng chính: Công nghệ vi sinh; Công nghệ tách chiết thực vật; Công nghệ sản xuất từ hoạt chất nhóm hóa sinh.

Việc kiên trì áp dụng thuốc BVTV sinh học sẽ bảo vệ được các loài thiên địch, vi sinh vật, nấm và vi khuẩn có ích. Các sinh vật này tích lũy dần qua các năm để tự đạt trạng thái cân bằng sinh thái tự nhiên, giúp kiểm soát dịch hại.

Một trải nghiệm thực tế là trong các vườn chè ở Australia, đất cực kỳ tơi xốp, khi bước chân vào cảm giác lún mềm xuống do kiên trì bón phân hữu cơ và rải sinh khối biomass tích lũy qua nhiều năm. Đây là điều mà Việt Nam có thể học tập.

Các giải pháp chiến lược

Đề cập đến các giải pháp để chuyển đổi sản xuất xanh hiệu quả, GS Nguyễn Văn Tuất nhấn mạnh cần chuyển dịch tư duy từ chạy theo năng suất tối đa sang tối ưu hóa lợi nhuận (lãi ròng) của nông dân.

Minh chứng thực tế từ hợp phần nông nghiệp thông minh - dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới (WB7) của Ngân hàng Thế giới cho thấy, dù năng suất lúa không tăng nhưng nhờ áp dụng quy trình xanh, đã giúp giảm 20 - 30% nước tưới, giảm 20 - 40% phân bón và giảm 2 - 3 lần phun thuốc BVTV.

Chi phí đầu vào hạ đáng kể đã giúp tăng mạnh lãi ròng cho người dân, đồng thời sản phẩm được các chuỗi siêu thị bao tiêu ổn định với giá trị cao.

Bên cạnh đó, cần nâng cao vai trò của hợp tác xã, tổ hợp tác và chính quyền cơ sở. Đây là những then chốt để kết nối nông dân với doanh nghiệp, xây dựng chuỗi liên kết khép kín bao tiêu sản phẩm, giúp loại bỏ các lỗi canh tác như phun thuốc sai liều lượng, sai đối tượng dịch hại.

Để triển khai hiệu quả các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, GS Nguyễn Văn Tuất cho rằng cần chuyển trọng tâm quản lý sang công tác tiền kiểm, kiểm soát thật chuẩn các yếu tố đầu vào như chất lượng giống, phân bón, thuốc BVTV sinh học. Bởi đầu vào chuẩn thì tự khắc khi hậu kiểm chất lượng nông sản đầu ra sẽ đạt yêu cầu xuất khẩu, tránh lãng phí xã hội và rủi ro bị trả hàng cho nông dân.

Bên cạnh đó, cần xây dựng các sản phẩm tín dụng xanh chuyên biệt cho từng tiểu ngành nông nghiệp. Ưu tiên hoàn thiện phương pháp luận đo lường MRV cho tín chỉ carbon nông nghiệp (đặc biệt là trồng lúa nước áp dụng kỹ thuật AWD) để liên thông với các tiêu chuẩn quốc tế, giúp thu hút dòng vốn quốc tế tự nguyện.

Một giải pháp nữa là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, số hóa việc quan trắc, giám sát dịch hại, dự báo khí tượng thủy văn để người dân chủ động ứng phó biến đổi khí hậu.

Những chủ trương, đề án lớnChính sách hỗ trợ chuyển đổi xanh được cụ thể hóa từ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021 - 2030 của Đại hội XIII và các văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Một ví dụ điển hình là "Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL. Hiện nay, diện tích thực tế đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững đạt khoảng 380.000ha. Đây là đề án kế thừa trực tiếp và nâng tầm từ kết quả thực tế của Dự án VnSAT từng được triển khai tại hợp phần lúa gạo của 8 tỉnh (cũ) vùng ĐBSCL.

Bên cạnh đó, còn phải kể đến Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2030. Đề án này đặt mục tiêu giảm ít nhất 15% khí nhà kính vào năm 2035 so với năm 2020, xây dựng nhãn hiệu phát thải thấp và thí điểm 15 mô hình vùng trồng. Đến năm 2025, các doanh nghiệp tiên phong đã được cấp chứng nhận "Gạo Việt Xanh - phát thải thấp" với hơn 70.000 tấn gạo xuất khẩu.