🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Chính sách sát thực tiễn, mở đường ngành hàng tỷ đô

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Chính sách sát thực tiễn, mở đường ngành hàng tỷ đô

Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở NN MT Đắk Lắk cho rằng, Nghị quyết 36 mở hướng tháo gỡ mã số vùng trồng, tạo thuận lợi cho nông dân, HTX và doanh nghiệp.

Gỡ nút thắt từ cơ sở

Đắk Lắk có quy mô sản xuất nông nghiệp lớn, với nhiều ngành hàng chủ lực như cà phê, sầu riêng, cây ăn quả gắn với thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, đặc điểm sản xuất của tỉnh cũng đặt ra yêu cầu phải có cách quản lý phù hợp hơn, nhất là đối với những vùng sản xuất vừa và nhỏ, xen canh hoặc được tổ chức thông qua các HTX, chuỗi liên kết.

Theo bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk, những bất cập trong cấp mã số vùng trồng thời gian qua từng khiến không ít hộ dân, HTX gặp khó khi muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi xuất khẩu.

Đây cũng là vấn đề được địa phương trực tiếp kiến nghị với đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường khi Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp về làm việc tại Đắk Lắk đầu tháng 7. Từ thực tế sản xuất, địa phương đề xuất cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, truy xuất nguồn gốc, vừa tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị.

"Việc Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP được ban hành theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói là tín hiệu tích cực. Đây là sự quan tâm rất thiết thực đối với sản xuất ở cơ sở. Những vấn đề địa phương phản ánh đã được Trung ương lắng nghe, từ đó có hướng tháo gỡ phù hợp hơn với thực tế”, bà Thủy nói.

Theo bà Thủy, một trong những thay đổi đáng chú ý là việc tạm ngưng quy định cứng về diện tích tối thiểu 10 ha đối với vùng trồng. Với đặc thù sản xuất của Đắk Lắk, điều này mở thêm cơ hội cho các hộ dân có diện tích vừa và nhỏ tham gia vùng nguyên liệu thông qua tổ hợp tác, HTX hoặc liên kết với doanh nghiệp.

Điều quan trọng là việc mở rộng khả năng tiếp cận mã số vùng trồng sẽ không chỉ giúp người dân thuận lợi hơn về thủ tục. Khi nhiều diện tích được đưa vào hệ thống quản lý, doanh nghiệp có thêm nguồn nguyên liệu để xây dựng chuỗi liên kết, còn địa phương có điều kiện quản lý rõ hơn về vùng sản xuất.

Gọn thủ tục, chặt hậu kiểm

Theo bà Thủy, điểm đáng kỳ vọng khác của Nghị quyết 36 là cách thức thực hiện thủ tục theo hướng đơn giản, tăng ứng dụng công nghệ và chuyển mạnh sang cơ chế “tự khai - hậu kiểm”.

Với Đắk Lắk, đây là thay đổi có ý nghĩa bởi địa bàn rộng, trong khi người dân ở nhiều vùng sản xuất phải di chuyển xa nếu thực hiện thủ tục trực tiếp. Việc đơn giản hóa hồ sơ, phân cấp thực hiện tại UBND cấp xã và xử lý trên Cổng Dịch vụ công quốc gia sẽ giúp giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho cả người dân và doanh nghiệp.

“Thủ tục càng rõ ràng, thuận tiện thì người dân càng dễ tiếp cận. Nhưng cùng với đó phải bảo đảm minh bạch dữ liệu và hậu kiểm chặt chẽ”, bà Thủy nhấn mạnh.

Theo bà Thuỷ, số hóa không nên chỉ dừng ở việc thay hồ sơ giấy bằng hồ sơ điện tử. Giá trị lớn hơn là hình thành dữ liệu vùng trồng thống nhất, có thể cập nhật, kiểm tra và truy xuất khi cần thiết. Đây sẽ là cơ sở để địa phương quản lý tốt hơn vùng nguyên liệu, đồng thời giúp doanh nghiệp chủ động trong thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Đối với những ngành hàng có tính mùa vụ cao như sầu riêng và trái cây tươi, việc rút ngắn thời gian xử lý thủ tục càng có ý nghĩa. Nếu mã số vùng trồng được cấp thuận lợi, hàng hóa có thể nhanh chóng được đưa vào chuỗi liên kết, giảm nguy cơ bỏ lỡ thời điểm thu hoạch và cơ hội thị trường.

Tuy nhiên, bà Thuỷ cũng cho rằng, thông thoáng thủ tục không đồng nghĩa với hạ thấp yêu cầu đối với vùng trồng. Khi chuyển sang cơ chế “tự khai - hậu kiểm”, trách nhiệm của người sản xuất, HTX, doanh nghiệp và cơ quan quản lý càng phải rõ ràng. Mã số vùng trồng phải gắn với vùng nguyên liệu thực tế, sản xuất đúng quy định, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Từ góc độ quản lý ngành, bà Thủy cho rằng Nghị quyết 36 đang mở ra cơ hội để Đắk Lắk tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng bài bản hơn. Người dân có thêm cơ hội tham gia chuỗi, HTX thuận lợi mở rộng liên kết, doanh nghiệp chủ động nguồn hàng, còn cơ quan quản lý có thêm công cụ số để theo dõi và minh bạch hóa dữ liệu.

“Chúng tôi kỳ vọng chính sách mới sẽ sớm đi vào thực tế, để sự quan tâm, lắng nghe từ Trung ương được chuyển thành những thay đổi cụ thể ở cơ sở. Khi thủ tục thuận lợi hơn nhưng dữ liệu và chất lượng vẫn được kiểm soát, nông sản Đắk Lắk sẽ có thêm điều kiện nâng giá trị và đi xa hơn trên thị trường xuất khẩu”, bà Thủy mong muốn.

Toàn tỉnh Đắk Lắk hiện có khoảng 41.000 ha sầu riêng; niên vụ 2025 sản lượng đạt gần 446.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu ước khoảng 1,1 tỷ USD. Tuy nhiên, so với quy mô sản xuất, diện tích được cấp mã số vùng trồng vẫn còn khá khiêm tốn. Đến nay, toàn tỉnh có 280 mã số vùng trồng sầu riêng với diện tích khoảng 7.500 ha, cùng 42 cơ sở đóng gói được cấp mã xuất khẩu.