Chuẩn hóa bộ chỉ số giám sát chương trình nông thôn mới

Bộ NN-MT đã ban hành hướng dẫn bộ chỉ số giám sát, đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 theo hướng đồng bộ, minh bạch, lượng hóa kết quả thực hiện.
Tại Thông tư số 23/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành hướng dẫn bộ chỉ số giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.
Bộ chỉ số được xây dựng nhằm theo dõi toàn diện tiến độ, kết quả thực hiện chương trình từ Trung ương tới địa phương, bảo đảm công tác quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu, có thể đo lường và so sánh theo từng vùng, từng địa phương.
Theo hướng dẫn, hệ thống chỉ số được chia thành ba nhóm lớn gồm: giám sát mục tiêu của chương trình; giám sát kết quả thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030; và giám sát kết quả huy động nguồn lực thực hiện chương trình.
Ở nhóm chỉ số giám sát mục tiêu, nhiều nội dung trọng tâm được đưa vào theo dõi như tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ xã đạt nông thôn mới hiện đại; số tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; bình quân tiêu chí đạt chuẩn/xã; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều, cận nghèo đa chiều; tỷ lệ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; số xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn.
Đáng chú ý, các chỉ số đều được quy định cụ thể về khái niệm, phương pháp tính, phân tổ số liệu, kỳ báo cáo và cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp, theo dõi. Việc chuẩn hóa cách tính và nguồn dữ liệu được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ trong tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện chương trình tại các địa phương.
Đối với nhóm chỉ số giám sát kết quả thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, thông tư quy định đánh giá theo từng tiêu chí cụ thể của xã nông thôn mới, xã nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Các chỉ số được thống kê theo tỷ lệ xã đạt tiêu chí, số lượng tiêu chí đạt được và phân chia theo vùng kinh tế-xã hội, tạo cơ sở để theo dõi tiến độ thực hiện giữa các địa phương và phục vụ công tác điều hành chương trình ở cấp quốc gia.
Bên cạnh kết quả thực hiện mục tiêu, thông tư cũng dành một phần riêng để giám sát việc huy động nguồn lực. Tổng nguồn lực thực hiện chương trình được xác định bao gồm vốn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, vốn lồng ghép từ các chương trình khác, vốn tín dụng chính sách, vốn doanh nghiệp và đóng góp tự nguyện của cộng đồng, người dân.
Hầu hết các chỉ số được thực hiện theo chế độ báo cáo 6 tháng và hằng năm. Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia là cơ quan chủ trì tổng hợp ở cấp toàn ngành; UBND cấp tỉnh và các đơn vị được giao thực hiện chương trình chịu trách nhiệm tổ chức theo dõi, báo cáo tại địa phương.