Đắk Lắk lên kế hoạch an cư cho hơn 4.000 hộ dân khó khăn

Tỉnh Đắk Lắk đặt mục tiêu đến năm 2030 bố trí, ổn định hơn 4.000 hộ dân vùng thiên tai, di cư tự do và biên giới, gắn an cư với sinh kế bền vững.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk vừa ban hành kế hoạch triển khai Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 nhằm cụ thể hóa mục tiêu của Chính phủ và UBND tỉnh về sắp xếp, ổn định dân cư.
Hướng tới an cư
Giai đoạn 2026-2030, tỉnh Đắk Lắk đặt mục tiêu sắp xếp, ổn định hơn 4.000 hộ dân đang sinh sống tại các khu vực tiềm ẩn nhiều rủi ro hoặc có điều kiện sống đặc biệt khó khăn. Đây là một trong những chương trình quy mô lớn nhằm bảo đảm an toàn cho người dân, đồng thời tạo nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong tổng số 4.000 hộ dự kiến được bố trí chỗ ở ổn định, có khoảng 1.639 hộ thuộc vùng thường xuyên chịu tác động của sạt lở đất, lũ quét, ngập lụt sẽ được sắp xếp thông qua các dự án mở mới tại 17 xã, phường, ưu tiên các địa bàn có nguy cơ cao như Yang Mao, Sơn Hòa, Ea Wer…
Đối với các hộ di cư tự do, tỉnh dự kiến bố trí ổn định 1.660 hộ tại 7 xã gồm Ea Súp, Ea Kiết, Vụ Bổn, Buôn Đôn, Ea H’leo, Ea Hiao và Ea Rốk. Để thực hiện mục tiêu này, địa phương dự kiến chuẩn bị khoảng 33 ha đất ở và 1.660 ha đất sản xuất, tạo điều kiện để người dân ổn định cuộc sống và phát triển sinh kế lâu dài.
Tại khu vực biên giới, chương trình đặt mục tiêu bố trí, ổn định 500 hộ dân tại xã Ea Bung, góp phần xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Không chỉ hướng đến việc di dời người dân đến nơi ở an toàn hơn, kế hoạch còn đặt ra những chỉ tiêu cụ thể về chất lượng cuộc sống. Theo đó, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu cơ bản không còn tình trạng dân di cư tự do; thu nhập bình quân đầu người tại các vùng dự án tăng khoảng 1,3 lần so với năm 2025; 100% hộ dân có điện sử dụng và 95% hộ có nhà ở kiên cố hoặc bán kiên cố.
Riêng trong năm 2026, ngành nông nghiệp và môi trường sẽ tập trung đôn đốc hoàn thành các dự án chuyển tiếp từ giai đoạn trước tại xã Cư Pui, Vụ Bổn, Phú Xuân và Ea Bung. Đồng thời, rà soát, hướng dẫn các địa phương xây dựng phương án bố trí dân cư và đăng ký nhu cầu vốn đầu tư cho giai đoạn 2026-2030.
An cư gắn với sinh kế
Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk cho biết, kế hoạch an cư đối với các hộ dân khó khăn không chỉ dừng ở việc bố trí nơi ở mà còn hướng tới hình thành các khu dân cư có điều kiện phát triển lâu dài, với hai trụ cột là hạ tầng và sinh kế.
Sở sẽ phối hợp với các địa phương tiếp tục rà soát hiện trạng dân cư, quỹ đất và điều kiện hạ tầng để lựa chọn hình thức bố trí phù hợp, gồm tái định cư tập trung, bố trí xen ghép hoặc ổn định tại chỗ. Việc triển khai phải bảo đảm đúng quy hoạch, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nguồn lực đầu tư ưu tiên cho hệ thống thủy lợi, công trình phòng chống thiên tai, cấp nước sạch tập trung và các hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống người dân tại các khu tái định cư. Trong đó, ứng dụng chuyển đổi số vào quản lý, vận hành các công trình cấp nước được xác định là giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo đảm cấp nước an toàn, liên tục.
Cùng với đầu tư hạ tầng, chương trình cũng chú trọng hỗ trợ phát triển sản xuất nhằm giúp người dân có sinh kế bền vững sau khi ổn định nơi ở. Cụ thể, hỗ trợ xây dựng hợp tác xã, tổ hợp tác, mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển vùng nguyên liệu, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản phù hợp với điều kiện từng địa phương.
Người dân trong vùng dự án cũng được ưu tiên tiếp cận các chính sách hỗ trợ về giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp, chuyển giao khoa học kỹ thuật, tín dụng chính sách, đào tạo nghề và tạo việc làm. Đối với những hộ thiếu đất sản xuất, các giải pháp đa dạng hóa sinh kế, phát triển ngành nghề nông thôn và dịch vụ sẽ được lồng ghép để tạo nguồn thu nhập ổn định.
Bên cạnh đó, chương trình an cư khuyến khích phát triển các sản phẩm OCOP, mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa; đẩy cơ giới hóa, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và các mô hình sản xuất thích ứng với điều kiện sinh thái từng vùng.