🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Xuất khẩu

Đắk Lắk: Nâng cao hiệu quả triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản

Cập nhật: Báo Nhân Dân điện tử
Đắk Lắk: Nâng cao hiệu quả triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản

Đắk Lắk: Nâng cao hiệu quả triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản

Ngày 22/10, tại phường Buôn Ma Thuột, Trung tâm Khuyến nông quốc gia phối hợp Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk tổ chức Diễn đàn khuyến nông @ nông nghiệp - giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản

Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia Hoàng Văn Hồng cho biết, trong bối cảnh thị trường tiêu thụ, xuất khẩu nông sản ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn là công cụ quan trọng để tổ chức lại sản xuất, quản lý chất lượng và nâng cao uy tín hàng nông sản Việt Nam. Tuy nhiên, giá trị của mã số không chỉ nằm ở việc được cấp mà chủ yếu ở khả năng tuân thủ, quản lý và duy trì các điều kiện trong suốt quá trình sản xuất, thu hoạch, đóng gói và tiêu thụ.

Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026 và Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức thực hiện theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện trên môi trường điện tử, đề cao trách nhiệm tự kê khai của tổ chức, cá nhân, gắn với kiểm tra, hậu kiểm theo quy định.

Trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, việc đưa các quy định mới vào cuộc sống cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền cấp xã, hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

Tây Nguyên, trong đó có Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng, là khu vực sản xuất nhiều ngành hàng nông sản chủ lực như sầu riêng, cà-phê, hồ tiêu và cây ăn quả. Yêu cầu cấp thiết là phát triển vùng nguyên liệu gắn với kiểm soát chất lượng, ghi chép và quản lý dữ liệu minh bạch, đáp ứng quy định của từng thị trường. Đặc biệt, với sầu riêng, ngành hàng có giá trị xuất khẩu cao, việc thực hành đúng quy trình, kiểm soát vật tư đầu vào và quản lý sự tương thích giữa vùng trồng với cơ sở đóng gói là yếu tố quyết định tính bền vững của chuỗi tiêu thụ.

Tại diễn đàn, các nhà quản lý, các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người trồng sầu riêng tập trung trao đổi, thảo luận nhiều nội dung và vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản.

Cụ thể, thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, việc giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng, theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm; đơn giản hóa hồ sơ, giảm thời gian và chi phí tuân thủ; gắn với hậu kiểm, đồng thời kiểm tra trước khi cấp đối với trường hợp thị trường nhập khẩu có yêu cầu về mã số. Trong điều kiện phân cấp thực hiện tại cấp xã, cần chú trọng nâng cao năng lực cán bộ, thống nhất hướng dẫn và hỗ trợ tổ chức, cá nhân thao tác trên môi trường điện tử.

Cần lưu ý phân biệt mã số được cấp trong nước với trường hợp mã số phải được nước nhập khẩu xem xét, phê duyệt theo yêu cầu của thị trường. Đơn vị sản xuất và doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật quy định của nước nhập khẩu và tình trạng hiệu lực của mã số, không đồng nhất việc có mã số với việc đương nhiên đủ điều kiện xuất khẩu vào mọi thị trường…

Các ý kiến tại diễn đàn cũng cho biết, việc triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản còn gặp các khó khăn như: sản xuất phân tán, nhiều hộ tham gia một vùng nguyên liệu nhưng quy trình canh tác, ghi chép và trách nhiệm quản lý chưa thống nhất; năng lực kiểm tra nội bộ của một số hợp tác xã còn hạn chế.

Nhật ký sản xuất thiếu liên tục; hồ sơ vật tư, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian cách ly và thông tin thu hoạch chưa được ghi chép đầy đủ; dữ liệu giữa vùng trồng và cơ sở đóng gói có nguy cơ thiếu liên kết. Cán bộ cơ sở đảm nhiệm nhiều công việc, mức độ thành thạo về thủ tục điện tử, bản đồ thửa đất, dữ liệu vùng trồng và yêu cầu từng thị trường chưa đồng đều. Thông tin về các thay đổi trong yêu cầu thị trường, kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm cần được truyền đạt nhanh, dễ hiểu, đúng đối tượng và kịp thời trước mùa thu hoạch.

Đắk Lắk và Tây Nguyên là khu vực sản xuất nhiều ngành hàng nông sản chủ lực như sầu riêng, cà-phê, hồ tiêu và cây ăn quả. Vì vậy, các nhà quản lý, chuyên gia đề xuất các giải pháp ưu tiên trong việc triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản như: hỗ trợ theo chuỗi ngành hàng, lấy vùng nguyên liệu làm đơn vị tổ chức, ưu tiên địa bàn sản xuất tập trung sầu riêng, cà-phê, hồ tiêu và cây ăn quả có nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu và có hợp tác xã, doanh nghiệp liên kết; khi hỗ trợ cần xác định rõ chủ thể đại diện, danh sách hộ và thửa đất, quy trình kỹ thuật, cơ sở đóng gói liên kết, thị trường mục tiêu và trách nhiệm quản lý dữ liệu; cần chuyển từ hỗ trợ hồ sơ đơn lẻ sang hỗ trợ năng lực tổ chức vùng nguyên liệu và duy trì điều kiện sau khi được cấp mã số.

Bên cạnh đó, cần thiết lập cách làm “bốn thời điểm, một bộ hồ sơ xuyên suốt”: ở đầu vụ, hướng dẫn xác định hộ/lô, cập nhật diện tích, thống nhất quy trình và biểu mẫu. Trong vụ, kiểm tra mẫu việc ghi chép, sử dụng vật tư và phòng trừ sinh vật gây hại. Trước thu hoạch, rà soát điều kiện kỹ thuật, thời gian cách ly, sản lượng dự kiến, phiếu giao nhận và tuyến vận chuyển đến cơ sở đóng gói. Sau vụ, đối chiếu dữ liệu lô hàng, đánh giá sai sót và điều chỉnh quy trình. Đây là hoạt động tự kiểm soát của chuỗi, không thay thế hậu kiểm của cơ quan có thẩm quyền…

Cần phát huy đội ngũ cán bộ nòng cốt đã tham gia các lớp ToT; kết nối Tổ khuyến nông cộng đồng với hợp tác xã, tổ hợp tác và chính quyền cấp xã để tiếp tục hướng dẫn theo nhu cầu; phân công rõ người hỗ trợ ghi nhật ký, tổng hợp hồ sơ vùng trồng, phối hợp cơ sở đóng gói và tiếp nhận phản ánh; thực hành trực tiếp tại vườn, tại cơ sở đóng gói và hỗ trợ nhóm người sản xuất chưa thành thạo công cụ số. Đây là hướng duy trì kết quả nhiệm vụ trong hoạt động khuyến nông thường xuyên, không phụ thuộc vào việc tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn tập trung.

Đưa yêu cầu thị trường đến trước quyết định sản xuất, thu hoạch, cơ quan chuyên môn cập nhật hướng dẫn của từng thị trường; doanh nghiệp thông tin sớm về tiêu chuẩn nguyên liệu, chỉ tiêu an toàn thực phẩm, thời gian giao hàng và quy cách đóng gói; hệ thống khuyến nông truyền tải thành thông điệp kỹ thuật cụ thể đến vùng trồng. Đối với sầu riêng, cần chú trọng tuân thủ quy trình canh tác bền vững, sử dụng vật tư đúng quy định, thu hoạch đạt yêu cầu và đối chiếu thông tin lô hàng giữa vùng trồng và cơ sở đóng gói…

Với phương châm chuyển quy định thành hướng dẫn thực hành; chuyển hỗ trợ đăng ký sang đồng hành duy trì điều kiện mã số; chuyển tập huấn đơn lẻ sang phát huy lực lượng nòng cốt tại cơ sở; chuyển quản lý từng hộ sang tổ chức vùng nguyên liệu và liên kết chuỗi…

Thông qua diễn đàn này, Trung tâm Khuyến nông quốc gia sẽ tổng hợp ý kiến từ thực tiễn, xác định trách nhiệm phối hợp và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói góp phần phát triển tiêu thụ và xuất khẩu nông sản bền vững.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage