🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Xuất khẩu

Điểm sáng ngành Nông nghiệp trong bức tranh tăng trưởng xuất khẩu - Tạp chí Kinh tế

Cập nhật: Tạp chí Kinh tế - Tài chính Online
Điểm sáng ngành Nông nghiệp trong bức tranh tăng trưởng xuất khẩu - Tạp chí Kinh tế

Điểm sáng ngành Nông nghiệp trong bức tranh tăng trưởng xuất khẩu

Thứ năm 01/10/2026 16:44

e-ISSN 3093-3501

Nhiều mặt hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục ghi nhận kết quả xuất khẩu tích cực, trong đó thủy sản, rau quả và gỗ duy trì quy mô kim ngạch lớn. Đáng chú ý, sự tăng trưởng của rau quả, thủy sản và một số mặt hàng nông sản chế biến không chỉ góp phần mở rộng quy mô xuất khẩu của ngành nông nghiệp mà còn tạo thêm động lực cho hoạt động xuất khẩu chung của Việt Nam.

| Công chức Hải quan khu vực VIII (Quảng Ninh) kiểm tra hàng thủy sản đông lạnh xuất khẩu. Ảnh: Thái Bình. |

Rau quả, thủy sản dẫn dắt tăng trưởng

Theo số liệu thống kê mới nhất của của Cục Hải quan, tính từ đầu năm đến hết ngày 15/9, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 400,84 tỷ USD, tăng 23,2% (tương đương tăng 75,41 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2025.

Trong bức tranh tăng trưởng chung, ngoài đóng góp lớn của các nhóm hàng điện tử, máy móc..., không thể không nhắc đến nhiều mặt hàng nông, lâm, thủy sản, đặc biệt là các nhóm hàng có lợi thế về nguồn nguyên liệu, năng lực chế biến và thị trường tiêu thụ.

Nổi bật là xuất khẩu thủy sản đạt 8,45 tỷ USD, tăng 11,4% (tương đương tăng gần 865 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước. Với kết quả này, thủy sản tiếp tục là một trong những ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn, tăng trưởng cao của lĩnh vực nông nghiệp.

Đáng chú ý, trong nửa đầu tháng 9/2026, xuất khẩu thủy sản đạt gần 481 triệu USD, tăng 11,7% so với nửa đầu tháng 9/2025. Kết quả này cho thấy hoạt động xuất khẩu thủy sản tiếp tục duy trì nhịp tăng trưởng khi bước vào những tháng cuối năm.

Sự gia tăng kim ngạch phản ánh khả năng duy trì hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường quốc tế còn nhiều biến động. Tuy nhiên, để giữ vững đà tăng trưởng, ngành thủy sản cần tiếp tục đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển thị trường.

Cùng với thủy sản, rau quả là một trong những điểm sáng nổi bật về tốc độ tăng trưởng. Lũy kế đến ngày 15/9/2026, xuất khẩu rau quả đạt 6,71 tỷ USD, tăng 22,8% (tương đương tăng gần 1,25 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2025. Đây là ngành hàng có mức tăng kim ngạch lớn nhất trong các nhóm hàng nông, lâm, thủy sản chủ lực được thống kê của Cục Hải quan.

Kết quả này có ý nghĩa quan trọng khi rau quả không chỉ mở rộng quy mô kim ngạch mà còn gia tăng đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu chung.

Đặc biệt, mức tăng trưởng hai con số trên nền tảng kim ngạch lớn cho thấy dư địa phát triển của ngành hàng rau quả vẫn còn đáng kể. Việc duy trì đà tăng trưởng đòi hỏi doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào vùng nguyên liệu, bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu.

Ngoài ra, các nhóm hàng nông sản truyền thống như hạt điều và hạt tiêu cũng ghi nhận tăng trưởng nhất định. Cụ thể, xuất khẩu hạt điều đạt 3,58 tỷ USD, tăng 2,4%; trong khi đó, hạt tiêu đạt 1,32 tỷ USD, tăng 10,3%.

Ở lĩnh vực lâm sản, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 12,49 tỷ USD, tăng 6,3%, tương đương tăng gần 739 triệu USD. Riêng sản phẩm gỗ đạt 8,06 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2025.

Dù tốc độ tăng trưởng chưa cao, gỗ và sản phẩm gỗ vẫn giữ vị trí dẫn đầu về kim ngạch trong lĩnh vực nông nghiệp. Với quy mô xuất khẩu lớn, mức tăng trưởng của ngành hàng này có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả xuất khẩu chung.

Bên cạnh đó, sản phẩm mây, tre, cói và thảm đạt gần 698 triệu USD, tăng 15,3%. Kết quả này cho thấy các sản phẩm có nguồn gốc từ nguyên liệu tự nhiên tiếp tục có khả năng mở rộng thị trường, đồng thời góp phần đa dạng hóa cơ cấu hàng xuất khẩu.

Tuy vậy, bức tranh xuất khẩu nông nghiệp chưa đồng đều giữa các ngành hàng khi một số nhóm hàng chủ lực bị sụt giảm kim ngạch.

Số liệu thống kê của Cục Hải quan ghi nhận xuất khẩu cà phê đạt 6,27 tỷ USD, giảm 7,9% về kim ngạch, mặc dù lượng tăng 14,6%; tương tự, xuất khẩu gạo đạt 2,93 tỷ USD, giảm 12,8% về kim ngạch và giảm 7,1% về lượng; cao su đạt 2,03 tỷ USD, giảm 4,7%...

Những diễn biến trái chiều cho thấy tăng trưởng xuất khẩu của lĩnh vực nông nghiệp không chỉ phụ thuộc vào khả năng mở rộng sản lượng mà còn chịu tác động đáng kể của giá bán, cơ cấu sản phẩm và nhu cầu thị trường.

| Mặt hàng mít quả tươi xuất khẩu qua địa bàn cửa khẩu quốc tế Móng Cai, Quảng Ninh. Ảnh: Thái Bình. |

Đóng góp quan trọng vào xuất khẩu chung của cả nước

Không chỉ duy trì quy mô xuất khẩu lớn, các ngành hàng nông, lâm, thủy sản còn có đóng góp đáng kể vào việc đa dạng hóa cơ cấu hàng hóa và mở rộng nguồn thu ngoại tệ của nền kinh tế.

Từ số liệu thống kê của Cục Hải quan cho thấy, chỉ riêng 4 nhóm hàng lớn nhất của ngành Nông nghiệp gồm: Gỗ và sản phẩm gỗ; thủy sản; rau quả; cà phê đạt tổng kim ngạch 33,92 tỷ USD, chiếm khoảng 8,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước.

Trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ đóng góp lớn nhất, chiếm 3,12%; tiếp đến là thủy sản chiếm 2,11%, rau quả chiếm 1,67% và cà phê chiếm 1,57%.

Điều này cho thấy vai trò của các ngành hàng nông nghiệp không chỉ thể hiện ở quy mô xuất khẩu mà còn ở khả năng tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công nghiệp chế biến, mở rộng thị trường và tạo việc làm cho người lao động.

Xét trên phạm vi toàn ngành, theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ.

Đây là kết quả có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện cán cân thương mại, bổ sung nguồn ngoại tệ và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Về thị trường, Trung Quốc tiếp tục là đối tác xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam; tiếp đến là Hoa Kỳ, Nhật Bản…

Cơ cấu thị trường này cho thấy ngoài việc tiếp tục duy trì các thị trường truyền thống, các doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh khai thác các thị trường tiềm năng nhằm hạn chế rủi ro khi nhu cầu hoặc chính sách thương mại của đối tác lớn có sự thay đổi.

Để đạt mục tiêu xuất khẩu hơn 74 tỷ USD cả năm, trong 3 tháng cuối của năm 2026, ngành Nông nghiệp cần đạt kim ngạch bình quân 5,97 tỷ USD/tháng. Đây là con số khả thi khi bình quân trong 9 tháng qua đạt hơn 6,25 tỷ USD/tháng.

Dù vậy, trong bối cảnh địa chính trị thế giới còn nhiều biến động, cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp để đạt được mục tiêu cả năm.

Tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026 (tháng 5/2026), Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm như: Tăng cường dự báo thị trường, phát triển vùng nguyên liệu tập trung, đẩy mạnh chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, đơn giản hóa thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý ngành…

Ngoài việc hiện thực hóa mục tiêu về kim ngạch, một yếu tố quan trọng cần phải tiếp tục cải thiện là chú trọng nâng cao giá trị trên từng đơn vị sản phẩm gắn với đảm bảo được nguồn cung nguyên liệu, xây dựng thương hiệu để có được sự tăng trưởng bền vững. Đây cũng là hướng đi cần thiết để giảm sự phụ thuộc vào biến động giá nguyên liệu và mở rộng khả năng tham gia các chuỗi cung ứng có giá trị cao.

Với kết quả đạt được từ đầu năm đến nay là cơ sở quan trọng để các ngành hàng thuộc lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đạt được mục tiêu để ra cho cả năm, đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam.

Giá chè xuất khẩu cải thiện đang góp phần hạn chế đà giảm kim ngạch trong bối cảnh lượng xuất khẩu và sức mua tại một số thị trường truyền thống suy yếu. Để tận dụng nhu cầu cuối năm, ngành chè cần nâng chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường gắn với xây dựng thương hiệu.

Từ ngày 27/9/2026, các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) áp dụng những quy định mới nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong quá trình chuyển đổi xanh. Yêu cầu về độ bền, khả năng sửa chữa, bảo hành và các tuyên bố môi trường được EU đặt ra chặt chẽ hơn. Với doanh nghiệp Việt Nam, đáp ứng thị trường EU vì thế không chỉ là sản xuất sản phẩm xanh, mà còn phải chứng minh những giá trị đó bằng dữ liệu minh bạch, đáng tin cậy.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cần đưa sản phẩm ra nước ngoài, mà phải xây dựng năng lực cạnh tranh, thương hiệu và hiện diện bền vững. GoGlobal mở hướng tiếp cận mới, đồng hành với doanh nghiệp trên hành trình quốc tế hóa, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thị trường Úc còn nhiều dư địa cho hàng hóa của Việt Nam khi thị phần hiện mới chiếm khoảng 2,7% tổng quy mô nhập khẩu của nước này. Tuy nhiên, để mở rộng thị phần, doanh nghiệp không chỉ cần nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, mà còn phải nắm chắc quy định pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, xu hướng tiêu dùng và hệ thống phân phối bản địa.

Đề án “Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045” gắn kết với thị trường hàng hóa vật chất và đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, phòng ngừa rủi ro giá của doanh nghiệp.

Hội chợ Hàng Việt Nam tiêu biểu xuất khẩu năm 2026 được định vị là “trung tâm xuất khẩu tại chỗ” của TP. Hồ Chí Minh, kết nối trực tiếp hàng hóa từ nhà máy với các nhà mua hàng, tập đoàn thu mua và hệ thống phân phối quốc tế.

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn được duy trì bình thường trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh Trung Quốc từ ngày 1-7/10. Tuy nhiên, việc vận chuyển, giao nhận hàng hóa có thể chậm hơn so với ngày thường.

Năm 2025, Việt Nam mặc dù xuất khẩu 70,6 tỷ USD hàng hóa sang các nước thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), nhưng chỉ chiếm hơn 1% tổng nhu cầu nhập khẩu của cả khối (khoảng 4.250 tỷ USD). Khoảng cách này cho thấy, dư địa cho hàng Việt còn lớn, song để biến dư địa thành đơn hàng, theo các chuyên gia, doanh nghiệp không chỉ tìm thị trường thay thế mà phải mở rộng mạng lưới khách hàng, nguồn cung và chuỗi sản xuất.

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ngành nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ, không chỉ phản ánh đà tăng của các ngành hàng chủ lực mà còn tạo nền tảng để hướng tới mục tiêu cả năm, mở ra giai đoạn tăng trưởng mới dựa trên chất lượng, giá trị gia tăng, thương hiệu và chuỗi giá trị bền vững.

Ngành dệt may Việt Nam đang bước vào chặng nước rút của năm 2026 với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động, khả năng thích ứng, nâng sức cạnh tranh và mở rộng chuỗi cung ứng sẽ quyết định dư địa tăng trưởng xuất khẩu của ngành dệt may trong những tháng cuối năm.

Đến ngày 15/9/2026, Việt Nam nhập khẩu hơn 181.000 ô tô nguyên chiếc, tổng kim ngạch 4,17 tỷ USD và 5,35 tỷ USD nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô. Đáng chú ý, cả hai nhóm hàng đều tăng trưởng đáng kể so với cùng kỳ năm trước.

Ngày 25/9, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1855/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung khu kinh tế (KKT) cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến năm 2045, định hướng phát triển không gian kinh tế cửa khẩu theo hướng hiện đại, đồng bộ, tăng cường kết nối giao thông, thương mại biên giới và logistics.

Từ ngày 1/10/2026, thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng được miễn một số điều kiện kinh doanh vốn áp dụng với gạo thông thường. Cùng với việc giảm rào cản gia nhập thị trường, quy định mới đặt trọng tâm vào hậu kiểm, theo dõi nhập khẩu và trách nhiệm bảo đảm nguồn cung trong nước.

Các chuyên gia tập trung phân tích những yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc và cách chuyển hóa dữ liệu kỹ thuật thành bằng chứng phục vụ báo cáo môi trường, xã hội và quản trị.

Việc tổ chức lại các phòng quản lý Xuất nhập khẩu nhằm tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, vướng mắc về con dấu trong giai đoạn chuyển tiếp đang khiến quy trình cấp một số mẫu C/O bản giấy phát sinh thêm khâu luân chuyển, làm gia tăng áp lực về thời gian và chi phí đối với doanh nghiệp xuất khẩu.