Nông, lâm, thủy sản duy trì động lực xuất khẩu

Nông, lâm, thủy sản duy trì động lực xuất khẩu
Nông, lâm, thủy sản duy trì động lực xuất khẩu
Nhiều nhóm hàng duy trì đà tăng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa thông tin, trong quý III và 9 tháng năm 2026, sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong bối cảnh thị trường quốc tế còn nhiều biến động về giá nguyên, nhiên liệu và nhu cầu tiêu dùng. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 9 ước đạt 6,51 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ.
Tính chung 9 tháng, xuất khẩu nông sản đạt 29,28 tỷ USD, tăng 3,1%; chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6%; thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%; lâm sản đạt gần 14,41 tỷ USD, tăng 7,6%. Đáng chú ý, nhóm đầu vào sản xuất đạt 2,86 tỷ USD, tăng tới 58,2%, trong khi xuất khẩu muối đạt 11,3 triệu USD, tăng 35,1%.
Xét theo thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chủ lực của Việt Nam, chiếm 49,4% thị phần. Tiếp theo là châu Mỹ với 22,2% và châu Âu 13,5%.
So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang châu Á tăng 11,9%; châu Mỹ tăng 2,3%; châu Âu tăng 2,6% và châu Đại Dương tăng 15,5%. Ngược lại, xuất khẩu sang châu Phi giảm 16,7%, cho thấy sức mua và khả năng khai thác thị trường giữa các khu vực chưa đồng đều.
Ở cấp độ từng thị trường, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là ba thị trường lớn nhất, với thị phần lần lượt 24,4%, 19,8% và 7,4%. Trong 9 tháng, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 18,9%, Hoa Kỳ tăng 1,2% và Nhật Bản tăng 4,9%.
Phân hóa rõ giữa các mặt hàng
Bức tranh xuất khẩu 9 tháng cho thấy một số ngành hàng tiếp tục mở rộng cả về sản lượng và giá trị, trong khi một số mặt hàng chịu áp lực về giá và thị trường.
Rau quả là một trong những điểm sáng khi kim ngạch 9 tháng đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ. Trung Quốc tiếp tục là thị trường chủ lực, chiếm 63% tổng giá trị xuất khẩu rau quả; tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Riêng xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc 8 tháng đầu năm tăng 38,8%.
Thủy sản cũng duy trì mức tăng hai con số, đạt 9,17 tỷ USD sau 9 tháng, tăng 12,3%. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là ba thị trường tiêu thụ lớn nhất. Đáng chú ý, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc 8 tháng tăng 33,9%.
| Dây chuyền sản xuất chế biến tôm đông lạnh của nhà máy thủy sản Minh Phú. Ảnh: An Thư |
Gỗ và sản phẩm gỗ đạt gần 13,43 tỷ USD, tăng 7,3%. Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm 50,1%, nhưng giá trị xuất khẩu sang thị trường này 8 tháng giảm 4,6%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 43,4% và Nhật Bản tăng 5,3%.
| Để đạt mục tiêu xuất khẩu từ 74 tỷ USD trở lên, toàn ngành Nông nghiệp và Môi trường cần tạo thêm khoảng 17,7 tỷ USD trong quý IV/2026. |
Ở chiều ngược lại, một số ngành hàng chịu sức ép rõ hơn.
Xuất khẩu cà phê 9 tháng đạt 6,54 tỷ USD, tăng 15,4% về lượng nhưng giảm 7,3% về giá trị; giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%. Cao su giảm 16,2% về lượng và 4,4% về giá trị dù giá xuất khẩu bình quân tăng 14,1%. Xuất khẩu gạo đạt 3,11 tỷ USD, giảm 10,9% về giá trị.
Những diễn biến này cho thấy tăng trưởng kim ngạch không chỉ phụ thuộc vào sản lượng mà còn chịu tác động lớn từ giá hàng hóa và diễn biến từng thị trường. Với cà phê, chẳng hạn, lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị lại giảm do giá bình quân giảm mạnh.
Tập trung dư địa cho quý IV
Ở chiều nhập khẩu, 9 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu khoảng 39,4 tỷ USD nông, lâm, thủy sản, tăng 8% so với cùng kỳ. Cùng với kim ngạch xuất khẩu 56,3 tỷ USD, khu vực nông, lâm, thủy sản ghi nhận xuất siêu 16,9 tỷ USD trong 9 tháng, tăng 7,4% so với cùng kỳ. Mức xuất siêu 16,9 tỷ USD cho thấy vai trò của khu vực nông, lâm, thủy sản không chỉ nằm ở quy mô xuất khẩu mà còn ở khả năng tạo thặng dư thương mại.
Chánh Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Xuân Chinh cho biết, từ nay đến cuối năm 2026, ngành tập trung vào các chỉ tiêu tăng trưởng, xuất nhập khẩu và giải ngân đầu tư công.
Đối với sản xuất, xuất khẩu nông sản, công tác chỉ đạo, điều hành cần bám sát thực tế trong bối cảnh thời tiết diễn biến khó lường và các thị trường gia tăng yêu cầu về kỹ thuật, an toàn thực phẩm, kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc, môi trường và phát triển bền vững.
Theo ông Nguyễn Xuân Chinh, để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu 74 tỷ USD, ngành cần chú trọng chất lượng sản phẩm, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, tổ chức vùng nguyên liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu. Cùng với đó, tiếp tục duy trì các thị trường truyền thống và đẩy nhanh đàm phán mở cửa thị trường mới.
Trong quý IV, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành 4%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt từ 74 tỷ USD trở lên và giải ngân đầu tư công đạt 100%.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cũng cho biết, Bộ sẽ đẩy mạnh đàm phán mở cửa thị trường xuất khẩu nông sản; xây dựng thương hiệu ngành hàng nông sản Việt Nam giai đoạn 2026-2035; hoàn thành cơ sở dữ liệu quản lý tàu cá, tăng cường chống khai thác IUU; đồng thời nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và chủ động ứng phó với thời tiết cực đoan, El Nino giai đoạn 2026-2027.
| Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong quý IV Bộ xác định tập trung thực hiện hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; chuẩn bị nội dung trình Hội nghị Trung ương 4. Trọng tâm là xây dựng 3 dự án luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, gồm Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). |