Đồng Tháp đưa công nghệ số xuống ruộng vườn

Đồng Tháp đẩy mạnh chuyển đổi số nông nghiệp thông qua xây dựng hệ sinh thái dữ liệu thông minh vào sản xuất, chuẩn hóa mã số vùng trồng, nâng cao giá trị nông sản.
Xây dựng hệ sinh thái số, quản lý thông minh từ đồng ruộng
Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy ngành nông nghiệp Đồng Tháp đổi mới phương thức quản lý và tổ chức sản xuất. Thay vì ứng dụng công nghệ riêng lẻ, tỉnh hướng đến xây dựng hệ sinh thái dữ liệu đồng bộ, kết nối từ cơ quan quản lý đến hợp tác xã, doanh nghiệp và người nông dân.
Điểm nhấn là hệ sinh thái nền tảng số nông nghiệp (VDAPES) đã được xây dựng và đưa vào vận hành, tích hợp các lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, chăn nuôi và thú y, thủy sản, quản lý chất lượng, lâm nghiệp, thủy lợi, phát triển nông thôn và hệ thống báo cáo định kỳ.
Nền tảng này tạo cơ sở dữ liệu tập trung, giúp ngành chuyên môn thuận lợi theo dõi tình hình sản xuất, tổng hợp thông tin và phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Qua đó, phương thức quản lý từng bước chuyển từ báo cáo thủ công sang khai thác dữ liệu thực tế, nâng cao khả năng dự báo và xử lý những vấn đề phát sinh trong sản xuất.
Không chỉ tập trung ở khâu quản lý, Đồng Tháp còn đưa công nghệ đến gần hơn với người nông dân thông qua các mô hình ứng dụng trên đồng ruộng. Đáng chú ý là mạng lưới 25 bẫy đèn thông minh được triển khai tại các vùng sản xuất trọng điểm, phục vụ giám sát và cảnh báo sinh vật gây hại.
Hệ thống có khả năng tự động thu thập hình ảnh, phân tích thành phần côn trùng xuất hiện theo thời gian thực, hỗ trợ phân biệt sâu hại với thiên địch và những loài côn trùng có ích. Từ dữ liệu này, ngành chuyên môn và nông dân có thể chủ động xác định thời điểm, biện pháp phòng trừ phù hợp, hạn chế phun thuốc bảo vệ thực vật tràn lan.
Đây là giải pháp thiết thực trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp hướng đến giảm chi phí đầu vào, hạn chế dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và bảo vệ môi trường sinh thái. Việc phát hiện sớm diễn biến dịch hại cũng giúp nông dân tránh tình trạng xử lý khi sâu bệnh đã phát sinh trên diện rộng.
Cùng với giám sát dịch hại, công nghệ cảm biến AI và Internet vạn vật (IoT) được đưa vào các mô hình thí điểm vùng nguyên liệu có tổ chức tại hợp tác xã. Trong đó, thiết bị Enfarm hỗ trợ theo dõi các chỉ số dinh dưỡng trong đất như độ pH, độ ẩm, nhiệt độ, độ dẫn điện (EC) và hàm lượng dinh dưỡng dễ tiêu gồm đạm, lân, kali (N-P-K).
Thông qua ứng dụng trên điện thoại, nông dân có thể cập nhật tình trạng đất, từ đó điều chỉnh lượng phân bón và phương thức chăm sóc phù hợp với nhu cầu cây trồng. Các mô hình tại HTX Ngũ Hiệp và HTX Hiệp Đức đang thí điểm giải pháp này, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vật tư, tiết kiệm chi phí và hướng đến canh tác chính xác.
Chuẩn hóa mã số vùng trồng, nâng sức cạnh tranh nông sản
Bên cạnh ứng dụng công nghệ trong sản xuất, quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói là nhiệm vụ quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, chất lượng của các thị trường xuất khẩu.
Ông Trần Thanh Tâm, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Đồng Tháp, cho biết: Địa phương hiện có khoảng 31.100 ha sầu riêng, sản lượng trên 350.000 tấn/năm. Tỉnh đã được cấp các mã số vùng trồng và 66 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Trung Quốc.
Đáng chú ý, toàn bộ diện tích sầu riêng trên địa bàn tỉnh hiện đều có hợp đồng liên kết tiêu thụ ổn định thông qua các hợp tác xã với doanh nghiệp hoặc cơ sở đóng gói. Đây là điều kiện quan trọng để tổ chức sản xuất theo chuỗi, kiểm soát chất lượng và nâng cao trách nhiệm của các bên tham gia.
Theo ông Tâm, việc cấp mã số vùng trồng không chỉ dừng lại ở hoàn thiện hồ sơ mà phải gắn với quản lý, giám sát thường xuyên. Các vùng trồng cần tuân thủ quy định của thị trường nhập khẩu, bảo đảm quy trình sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, ngành nông nghiệp tỉnh đang tăng cường rà soát, tập huấn, hướng dẫn người dân duy trì mã số đã cấp, đồng thời hỗ trợ hoàn thiện điều kiện cấp mới.
Hiện hệ thống quản lý số hóa của tỉnh đang theo dõi hàng nghìn mã số vùng trồng, trong đó có 2.629 mã số đối với các loại cây ăn trái chủ lực như xoài, mít, sầu riêng, cùng hệ thống cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu. Dữ liệu được gắn với bản đồ số hành chính, tạo thuận lợi cho việc tra cứu, giám sát và quản lý theo từng địa bàn.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số vẫn còn một số khó khăn. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, việc tích hợp dữ liệu giữa các hệ thống cũ gặp trở ngại do khác biệt về phần mềm, cấu trúc dữ liệu và phương thức quản lý. Công tác rà soát, làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu dùng chung vì vậy cần tiếp tục được đẩy mạnh.
Một điểm nghẽn khác là việc kết nối giữa Cổng dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực nông nghiệp (dichvucongnnmt.mae.gov.vn) với Cổng Truy xuất nguồn gốc quốc gia (txng.mae.gov.vn) chưa được thực hiện trực tiếp. Người dân, doanh nghiệp phải thông qua đơn vị cung ứng phần mềm trung gian để cập nhật thông tin, dẫn đến tình trạng nhập liệu nhiều lần trên các hệ thống khác nhau. Điều này vừa làm tăng thời gian thực hiện thủ tục, vừa hạn chế khả năng khai thác dữ liệu của cơ quan quản lý.
Từ thực tiễn triển khai, ngành nông nghiệp Đồng Tháp kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm chuẩn hóa cấu trúc, từ điển dữ liệu theo Khung kiến trúc dữ liệu chung. Đồng thời xây dựng cơ chế kết nối, chia sẻ thông tin giữa hệ thống dịch vụ công trực tuyến với Cổng Truy xuất nguồn gốc quốc gia.
Việc tháo gỡ điểm nghẽn liên thông dữ liệu sẽ giúp giảm thủ tục, hạn chế trùng lặp thông tin và nâng cao hiệu quả quản lý. Qua đó, Đồng Tháp có thêm điều kiện phát triển hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, minh bạch, nâng cao giá trị nông sản và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước, xuất khẩu.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.