🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Gấp rút triển khai eCDT cho tàu cá từ 6m trở lên

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Gấp rút triển khai eCDT cho tàu cá từ 6m trở lên

Kết quả triển khai truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử cho tàu cá từ 6m trở lên mới đạt hơn 60,62%, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo 'nóng'.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) ra đời được xem là bước ngoặt công nghệ nhằm thay thế phương thức quản lý thủ công truyền thống, giải bài toán then chốt về minh bạch hóa nguồn gốc hải sản từ khâu xuất bến đến khi cập cảng.

Việc đẩy mạnh eCDT đóng vai trò quyết định trong nỗ lực gỡ bỏ "thẻ vàng" IUU và hiện đại hóa ngành thủy sản Việt Nam. Thế nhưng, thực tế sau nửa năm vận hành chính thức cho thấy hành trình chuyển đổi số của ngành ngư nghiệp vẫn còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến đầu tháng 9/2026 ghi nhận chỉ có 48.624 trong tổng số 80.209 tàu cá từ 6 mét trở lên trên toàn quốc đăng ký tham gia eCDT, đạt tỷ lệ 60,62%. Con số này phản ánh sự chênh lệch rõ rệt và thiếu đồng bộ giữa các địa phương ven biển.

Trong khi nhiều tỉnh miền Trung như Nghệ An (97,88%), Quảng Ngãi (96,42%) hay Thanh Hóa (94,89%) gần như hoàn thành việc số hóa đội tàu, thì nhiều địa phương khác lại ghi nhận tỷ lệ tham gia thấp đáng báo động. Điển hình như Tây Ninh chỉ đạt 12,30%, Hà Tĩnh đạt 17,21%, An Giang đạt 22,14%, hay những địa bàn có sản lượng thủy sản lớn như Cà Mau cũng mới dừng lại ở mức 41,58%.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thực trạng trên phản ánh những hạn chế trong việc tổ chức kiểm soát tàu cá ra, vào cảng cũng như cập nhật thông tin trên Hệ thống eCDT tại một số địa phương chưa đồng bộ. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính đầy đủ, chính xác và khả năng đối chiếu dữ liệu, từ đó gây khó khăn cho công tác kiểm soát hoạt động khai thác, giám sát sản lượng thủy sản bốc dỡ tại cảng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Nhằm khắc phục triệt để tình trạng này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố ven biển phải trực tiếp rà soát, đối chiếu toàn bộ dữ liệu tàu cá thực tế với dữ liệu trên eCDT. Các địa phương bắt buộc phải phân loại chính xác danh sách những tàu chưa tham gia, làm rõ nguyên nhân để xử lý dứt điểm, bảo đảm 100% lượt tàu ra vào cảng và sản lượng bốc dỡ đều được theo dõi trên hệ thống điện tử.

Khung pháp lý cho hoạt động này hiện đã được hoàn thiện đồng bộ. Theo Thông tư 81/2025/TT-BNNMT (có hiệu lực bắt buộc áp dụng eCDT từ ngày 1/3/2026) cùng các quy định bổ sung tại Thông tư 33/2026/TT-BNNMT - được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 80/2026/VBHN-TT-BNNMT ngày 27/8/2026, eCDT là nền tảng pháp lý duy nhất để cấp giấy biên nhận, xác nhận và chứng nhận nguyên liệu thủy sản.

Do đó, việc triển khai chậm trễ không chỉ dừng lại ở nguy cơ bị xem xét trách nhiệm đối với người đứng đầu địa phương, đơn vị quản lý cảng cá mà còn trực tiếp đe dọa đến chuỗi cung ứng xuất khẩu của doanh nghiệp. Các lô hàng hải sản nếu thiếu dữ liệu điện tử đồng bộ sẽ đối mặt với nguy cơ bị từ chối cấp chứng thư xuất khẩu sang các thị trường khắt khe như EU hay Mỹ.

Đáng chú ý, chiến dịch tăng tốc eCDT lần này không vận hành độc lập mà được đặt trong bức tranh tổng thể về nâng cấp hạ tầng nghề cá theo Quyết định 582/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch hệ thống cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão giai đoạn 2021 - 2030.

Các địa phương được giao nhiệm vụ ưu tiên nguồn lực đầu tư, nâng cấp tiêu chuẩn kỹ thuật cảng cá theo các quy định mới nhất tại Văn bản hợp nhất số 81/2026/VBHN-BNNMT. Việc công bố mở mới hoặc mở lại các cảng cá chuẩn hóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tàu cá cập bến, bốc dỡ hải sản và thực hiện quy trình số hóa nguồn gốc một cách thuận tiện nhất.

Với tần suất báo cáo định kỳ trước ngày 5 hằng tháng lên Thủ tướng Chính phủ, việc đẩy mạnh Hệ thống eCDT không đơn thuần là hành động ứng phó ngắn hạn với các đợt thanh tra của Ủy ban châu Âu (EC). Đây chính là bước đệm bắt buộc để nghề cá Việt Nam chuyển dịch từ quản lý thủ công sang quản trị số minh bạch, nâng cao uy tín và giá trị cạnh tranh cho hải sản Việt trên thị trường quốc tế.