Giá lúa gạo hôm nay 16/9/2026: Gạo nguyên liệu giữ đà tăng

Giá lúa gạo hôm nay 16/9/2026 tại các tỉnh BĐSCL giữ đà tăng tại gạo. Còn giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục giao dịch quanh ngưỡng 367-538 USD/tấn.
Giá lúa gạo hôm nay 16/9 ở trong nước
Thị trường lúa gạo ngày 16/9/2026 tiếp tục đi ngang ở mặt hàng lúa và vẫn đang tăng nhẹ tại gạo; thị trường tiếp tục giao dịch trầm lắng, lượng về ít thay đổi.
Cụ thể, giá lúa hôm nay (16/9) vẫn đứng yên, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa tăng nhẹ.
Chủng loại lúa | Giá (đồng/kg) | | Lúa IR 50404 (tươi) | 6.000-6.200 | | Lúa OM 5451 | 6.000-6.200 | | Lúa Đài Thơm 8 | 6.200-6.400 | | Lúa OM 18 (tươi) | 6.200-6.400 | | Lúa OM 34 (tươi) | 5.800-6.000 | | Lúa Nàng nhen (khô) | 20.000 | | Lúa Nàng Hoa 9 | 6.000-6.200 | | Lúa tươi IR 504 | 6.100-6.200 |
Còn giá gạo hôm nay (16/9) tiếp tục đà tăng tại gạo nguyên liệu CL 555 và IR 504 khi lần lượt thêm 50 và 150 đồng, lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít.
Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá ổn định. Trong khi, nhu cầu kho ở Lấp Vò (Đồng Tháp) mua yếu, mặt bằng giá không đổi.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá đi ngang.
Chủng loại gạo | Giá (đồng/kg) | | Nàng Nhen | 28.000 | | Gạo thường | 14.000-15.000 | | Gạo thơm | 17.000-22.000 | | Gạo thơm Jasmine | 17.000-18.000 | | Gạo Nàng Hoa | 21.000 | | Gạo tẻ thường | 13.000-14.000 | | Gạo thơm thái hạt dài | 18.000-20.000 | | Gạo Hương Lài | 22.000 | | Gạo Đài thơm 8 | 9.150-9.450 | | TP OM 5451 (đã sortex) | 10.750-10.900 | | Gạo Sóc Thường | 17.500 | | Gạo nguyên liệu OM 380 | 7.600-7.700 | | Gạo nguyên liệu CL 555 | 8.850-8.900 | | Gạo nguyên liệu IR 504 | 8.800-8.900 | | Gạo nguyên liệu OM 5451 | 9.550-9.650 | | Gạo nguyên liệu OM 18 | 8.700-8.850 | | Gạo nguyên liệu Sóc thơm | 7.500-7.600 |
Đối với mặt hàng phụ phẩm, giá tấm 3,4 đang là 8.500-8.600 đồng/kg, còn cám giao dịch trong khoảng 7.350-7.700 đồng/kg.
Như vậy, giá lúa gạo hôm nay 16/9/2026 đang nhích nhẹ ở gạo so với hôm qua.
Giá gạo xuất khẩu ngày 16/9 mới nhất
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam chưa thay đổi so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam vẫn đang đứng ở mức 445-450 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 534-538 USD/tấn; trong khi gạo trắng 5% tấm dao động từ 424-428 USD/tấn.
Quốc gia | Gạo xuất khẩu | Giá (USD/tấn) | | Việt Nam | Gạo thơm 5% tấm | 445-450 | | Gạo Jasmine | 534-538 | | | Gạo trắng 5% tấm | 424-428 | | | Thái Lan | Gạo trắng 5% tấm | 478-482 | | Pakistan | Gạo trắng 5% tấm | 408-412 | | Ấn Độ | Gạo trắng 5% tấm | 370-374 | | Gạo đồ 5% tấm | 373-377 |
Trên thị trường thế giới, mặt hàng này tiếp tục đi ngang. Theo đó, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được chào bán ở mức 478-482 USD/tấn, tiếp tục dẫn đầu trong khu vực. Sản phẩm cùng loại của Pakistan đứng ở mức thấp hơn, dao động từ 408-412 USD/tấn.
Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ ở mức 370-374 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm dao động trong khoảng 373-377 USD/tấn.
Thông tin lúa gạo mới nhất ngày 16/9
Tại Diễn đàn quốc tế 2026 về hợp tác phát triển ngành lúa gạo và liên kết chuỗi công nghiệp giống hiện đại diễn ra ngày 12/9 tại Hợp Phì, An Huy (Trung Quốc), ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam, Chủ tịch ThaiBinh Seed, nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ nguồn giống lúa lai.
Từ một quốc gia từng thiếu lương thực, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu nông sản lớn. Năm 2025, xuất khẩu gạo đạt 7,85 triệu tấn, trị giá 4,02 tỷ USD. Trong đó, giống lúa lai đóng vai trò quan trọng khi giúp năng suất cao hơn lúa thuần khoảng 15-20% và thích ứng tốt hơn với điều kiện sản xuất bất lợi. Mỗi năm, Việt Nam gieo trồng khoảng 400.000-500.000 ha lúa lai, cần 15.000-18.000 tấn hạt giống F1.
Tuy nhiên, nguồn cung vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, với 65-70% giống F1 phải mua từ nước ngoài. Thực trạng này cho thấy ngành giống cần đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất trong nước. Việc chủ động nguồn giống không chỉ bảo đảm an ninh sản xuất mà còn giúp ngành lúa gạo thích ứng biến đổi khí hậu, nâng chất lượng nông sản và tăng sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.