Giá nông sản hôm nay 21/9: Cà phê giảm mạnh, hồ tiêu đi ngang, lúa gạo ổn định

Giá nông sản hôm nay 21/9: Cà phê giảm mạnh, hồ tiêu đi ngang, lúa gạo ổn định
Giá nông sản hôm nay 21/9 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng chủ lực. Cà phê chịu áp lực giảm mạnh trên thị trường thế giới, kéo giá trong nước rời mốc 94.000 đồng/kg. Giá hồ tiêu duy trì trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg, trong khi thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục ổn định, giao dịch chưa sôi động.
Giá cà phê thế giới giảm mạnh, cà phê trong nước rời mốc 94.000 đồng/kg
Thị trường cà phê thế giới khép lại tuần giao dịch với mức giảm trên cả hai sàn chủ chốt. Trên sàn London, giá Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 đóng cửa ở mức 3.396 USD/tấn, giảm 129 USD/tấn, tương đương 3,7% so với cuối tuần trước. Hợp đồng tháng 1/2027 giảm 135 USD/tấn, tương đương 3,8%, xuống còn 3.373 USD/tấn.
Trên sàn New York, Arabica cũng điều chỉnh nhưng mức giảm thấp hơn Robusta. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 5,2 US cent/pound, tương đương 1,8%, xuống 280,5 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 giảm 5,3 US cent/pound, tương đương 1,9%, còn 271,95 US cent/pound.
Một trong những yếu tố gây sức ép lên giá Robusta là lượng tồn kho trên sàn ICE tăng trở lại. Tồn kho Robusta do ICE quản lý đã lên 5.043 lô, mức cao nhất trong khoảng 9,5 tháng. Tồn kho Arabica cũng tăng thêm 10.528 bao trong ngày 18/9, lên 258.415 bao, cao nhất khoảng 1,5 tháng.
Diễn biến này phần nào làm giảm lo ngại về tình trạng thiếu hụt cà phê trên thị trường kỳ hạn, đặc biệt trong bối cảnh nguồn cung từ Brazil đang được bổ sung với tốc độ cao.
Theo số liệu của Chính phủ Brazil, xuất khẩu cà phê nhân xanh trong hai tuần đầu tháng 9 đạt bình quân khoảng 13.500 tấn/ngày, tăng 51,5% so với mức bình quân mỗi ngày của tháng 9/2025. Lũy kế đến hết tuần thứ hai của tháng 9, Brazil đã xuất khẩu khoảng 107.900 tấn cà phê nhân xanh, tương đương khoảng 1,8 triệu bao loại 60 kg.
Nguồn cung Brazil tăng nhanh diễn ra sau khi nước này ghi nhận lượng cà phê xuất khẩu cao trong tháng 8. Việc hàng được đưa ra thị trường với tốc độ nhanh hơn góp phần giảm áp lực thiếu hụt trong ngắn hạn và gây sức ép nhất định lên giá Arabica.
Đối với Robusta, thị trường vẫn có sự khác biệt giữa nguồn cung vật chất và lượng hàng trên sàn kỳ hạn. Nguồn cung tại Việt Nam chưa thực sự dồi dào trước khi vụ thu hoạch mới bước vào giai đoạn cao điểm, nhưng tồn kho ICE tăng khiến bên mua không chịu áp lực phải đẩy mạnh thu gom.
Sau một tuần giao dịch kém tích cực trên thị trường quốc tế, giá cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên đồng loạt giảm. Mức giá hiện dao động từ 93.000 - 93.800 đồng/kg, giảm khoảng 1.500 - 1.700 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Tại Đắk Nông, giá cà phê giảm khoảng 1.500 đồng/kg, xuống 93.800 đồng/kg, vẫn là mức cao nhất trong các địa phương khảo sát.
Đắk Lắk và Gia Lai cùng giảm khoảng 1.600 đồng/kg, xuống còn 93.600 đồng/kg.
Lâm Đồng ghi nhận mức giảm mạnh nhất, khoảng 1.700 đồng/kg, đưa giá cà phê xuống 93.000 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm khảo sát.
Như vậy, toàn bộ các vùng khảo sát đã rời mốc 94.000 đồng/kg. Diễn biến này tương đồng với xu hướng giảm trên hai sàn London và New York.
Hoạt động mua bán cà phê tại Tây Nguyên hiện khá trầm lắng. Nông dân chào bán cà phê nhân quanh mức 93.000 - 93.800 đồng/kg, thấp hơn vùng 94.200 - 95.000 đồng/kg của tuần trước.
Trong khi đó, thời tiết tại nhiều vùng trồng đang bớt gây lo ngại khi lượng mưa giảm và độ ẩm đất được cải thiện. Đây là yếu tố có thể hỗ trợ cây cà phê phát triển trước khi bước vào vụ thu hoạch mới.
Giá hồ tiêu thế giới phân hóa, Việt Nam duy trì ổn định
Trên thị trường hồ tiêu thế giới, giá tại một số nguồn cung lớn ở châu Á tiếp tục điều chỉnh.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia giảm 53 USD/tấn so với tuần trước, xuống 6.886 USD/tấn. Tiêu đen Malaysia giảm 50 USD/tấn, còn 9.250 USD/tấn.
Trong khi đó, tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ ổn định ở mức 5.750 USD/tấn. Giá tiêu đen xuất khẩu Việt Nam cũng không thay đổi, dao động 6.070 - 6.130 USD/tấn đối với hai quy cách 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá Muntok của Indonesia giảm 72 USD/tấn, xuống 9.428 USD/tấn. Tiêu trắng Malaysia giảm 50 USD/tấn, còn 12.150 USD/tấn. Tiêu trắng xuất khẩu Việt Nam duy trì ở mức 8.450 USD/tấn.
Như vậy, thị trường hồ tiêu quốc tế đang có sự phân hóa giữa các nguồn cung. Trong khi giá tại Indonesia và Malaysia giảm, giá xuất khẩu của Việt Nam vẫn giữ ổn định.
Theo số liệu sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 15 ngày đầu tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu 10.915 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 70 triệu USD, tăng 3,8% về lượng so với 10.514 tấn trong 15 ngày đầu tháng 8.
Châu Á tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất với 5.741 tấn, chiếm 52,6% tổng lượng xuất khẩu. Trong đó, Trung Quốc đạt 2.125 tấn, tăng 34,1%.
Tại thị trường Mỹ, Việt Nam xuất khẩu 2.905 tấn trong nửa đầu tháng 9, tăng 62,4%, chiếm 26,6% tổng lượng xuất khẩu. Ngược lại, xuất khẩu sang châu Âu giảm 26,3% xuống 1.594 tấn, trong khi châu Phi giảm 13,8% xuống 469 tấn. Xuất khẩu sang UAE cũng giảm 42,1%, còn 570 tấn.
Ở chiều nhập khẩu, Việt Nam nhập 959 tấn hồ tiêu trong 15 ngày đầu tháng 9, kim ngạch 5,3 triệu USD, giảm 40,9% về lượng so với nửa đầu tháng 8. Campuchia tiếp tục là nguồn cung lớn nhất với 586 tấn, chiếm 61,1% tổng lượng nhập khẩu. Indonesia đứng thứ hai với 226 tấn, còn Brazil đạt 77 tấn.
Tại thị trường nội địa, giá hồ tiêu hôm nay tiếp tục duy trì trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg. Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giữ mức cao nhất với 141.000 đồng/kg và không thay đổi so với tuần trước.
Đắk Lắk ở mức 139.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá tiêu duy trì 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm khảo sát.
Chênh lệch giữa giá cao nhất và thấp nhất trên thị trường nội địa hiện là 4.000 đồng/kg. Mức giảm mới chỉ xuất hiện cục bộ tại Đắk Lắk, chưa tạo thành xu hướng điều chỉnh trên diện rộng.
Giá lúa gạo xuất khẩu ổn định, lúa gạo trong nước đi ngang
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Gạo thơm 5% tấm được chào bán trong khoảng 440 - 445 USD/tấn, Jasmine ở mức 526 - 530 USD/tấn, trong khi gạo thơm 100% tấm dao động 368 - 372 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm tiếp tục được chào bán ở mức 477 - 481 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Pakistan ở mức 419 - 423 USD/tấn, còn loại tương ứng của Ấn Độ dao động 375 - 379 USD/tấn. Gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ được chào bán 377 - 381 USD/tấn.
Mặt bằng giá xuất khẩu chưa tạo ra lực kéo rõ rệt đối với thị trường nội địa. Các nguồn cung lớn trong khu vực tiếp tục cạnh tranh về giá, khiến hoạt động thu mua nguyên liệu trong nước chưa có nhiều đột biến.
Theo số liệu được cung cấp, trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 6 triệu tấn gạo, trị giá khoảng 2,9 tỷ USD, giảm 6,3% về lượng và 11,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 43,2% thị phần; tiếp đến là Trung Quốc với 18,4% và Ghana với 11%.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 21/9 chưa ghi nhận biến động đáng kể. Nguồn cung lúa hè thu cuối vụ thu hẹp giúp hạn chế áp lực giảm, nhưng hoạt động mua bán vẫn khá chậm.
Giá lúa tươi OM 18 dao động 5.900 - 6.100 đồng/kg; OM 5451 ở mức 5.900 - 6.000 đồng/kg; IR 50404 khoảng 5.800 - 6.000 đồng/kg. OM 34 dao động 5.700 - 5.800 đồng/kg, trong khi Đài Thơm 8 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg.
Ở nhóm gạo nguyên liệu, CL 555 được thu mua khoảng 8.700 - 8.800 đồng/kg; IR 504 dao động 8.700 - 8.750 đồng/kg. Gạo OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg, OM 18 khoảng 8.700 - 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu có giá thấp hơn gồm OM 380 và Sóc Thơm, cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, tấm thơm 3 - 4 có giá 8.500 - 8.600 đồng/kg, trong khi cám dao động 7.300 - 7.650 đồng/kg. Phân khúc nếp cũng chưa có biến động đáng kể, với nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg và nếp IR 4625 tươi khoảng 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg, Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg và Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg.
Gạo trắng thông dụng ở mức khoảng 16.000 đồng/kg; Đài Thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo thường 14.000 - 15.000 đồng/kg; Sóc thường 15.000 - 16.000 đồng/kg; Sóc Thái khoảng 20.000 đồng/kg và OM 18 dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg.
07:01 21/09/2026
06:57 21/09/2026