🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Gia tăng giá trị nông sản bằng dữ liệu số

Cập nhật: Báo Nông nghiệp và Môi trường
Gia tăng giá trị nông sản bằng dữ liệu số

Gia tăng giá trị nông sản bằng dữ liệu số

Bổ sung hai ‘mắt xích’ sản xuất mới

Công thức truyền thống ‘nước - phân - cần - giống’ không còn đủ tạo lợi thế cạnh tranh cho nông sản Việt khi hội nhập. Thị trường hiện đại đòi hỏi khắt khe về quy trình sản xuất, trách nhiệm xã hội và môi trường. Thiếu minh bạch thông tin nguồn gốc hay phát thải, nông sản dù chất lượng vẫn nguy cơ bị từ chối. Vì vậy, dữ liệu trở thành yếu tố cốt lõi của sản phẩm nông nghiệp. Đây là những nhận định của các chuyên gia tại Tọa đàm “Mã số vùng trồng - Bệ phóng đưa nông sản Việt vươn tầm” do Báo Nông nghiệp và Môi trường vừa tổ chức.

Phân tích góc nhìn đổi mới này, PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam đưa ra nhận định mang tính định hướng, bên cạnh bốn yếu tố truyền thống là ‘nước, phân, cần, giống’, người làm nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay bắt buộc phải bổ sung thêm hai yếu tố then chốt là tiêu chuẩn và thông tin minh bạch.

Câu chuyện này không chỉ là hành trình riêng lẻ của các doanh nghiệp xuất khẩu, mà bắt đầu từ từng hộ nông dân, từng thửa ruộng. Mã số vùng trồng đang tạo ra bước đầu tiên trong quá trình số hóa thông tin sản xuất. Nhưng theo các chuyên gia, giá trị của mã số không nằm ở bản thân dãy số, mà ở lượng thông tin được tích lũy phía sau dãy số ấy.

Còn theo PGS.TS Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, mã số vùng trồng càng giàu dữ liệu, càng chi tiết thì càng có giá trị trong truy xuất. Một vùng trồng không chỉ cần xác định vị trí hay diện tích mà dữ liệu còn phải phản ánh quá trình sản xuất, vật tư đầu vào, quy trình canh tác và các thông tin cần thiết để chứng minh sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường. Khi đó, mã số vùng trồng có thể được nhìn như một ‘hồ sơ số’ của vùng sản xuất.

Nếu dữ liệu chỉ dừng ở việc đăng ký, giá trị của mã số còn hạn chế. Nhưng nếu dữ liệu được kết nối xuyên suốt từ vùng trồng đến cơ sở đóng gói, doanh nghiệp và người mua, nó có thể trở thành một phần của hạ tầng truy xuất nguồn gốc.

Nhận diện về vấn đề này, PGS.TS Đào Thế Anh cho rằng, mã số vùng trồng cần được kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc số, trong đó có thể ứng dụng Blockchain hoặc các giải pháp công nghệ phù hợp, nhằm truyền tải thông tin minh bạch đến khách hàng quốc tế.

Biến dữ liệu thành giá trị thương hiệu

Nếu thị trường tạo ra nhóm yêu cầu mới thì biến đổi khí hậu lại đặt ra bài toán khác làm thế nào để người nông dân biết trước rủi ro và có thời gian ứng phó?

Theo PGS.TS Lê Quốc Thanh, biến đổi khí hậu đang diễn biến nhanh và khốc liệt hơn dự tính, với tần suất và mức độ ngày càng đáng lưu ý. Trong bối cảnh đó, thông tin dự báo, dự tính và cảnh báo cần được chuyển hóa thành hướng dẫn cụ thể cho từng vùng sản xuất. Chẳng hạn, khi có nguy cơ El Niño, hạn hán hoặc thiếu nước, người dân cần được cảnh báo từ sớm để tính toán việc tích trữ nước, áp dụng tưới tiết kiệm và điều chỉnh quy trình canh tác.

PGS.TS Lê Quốc Thanh nhấn mạnh, chúng ta có bao nhiêu giải pháp đi chăng nữa, có bao nhiêu quy trình chăng nữa, nhưng nếu như không đến được với bà con thì tất cả các giải pháp, quy trình cũng bằng không. Đây chính là nơi dữ liệu và khuyến nông gặp nhau. Dữ liệu giúp phát hiện và cảnh báo rủi ro, khoa học cung cấp giải pháp, còn hệ thống khuyến nông chuyển hóa thông tin thành hướng dẫn dễ áp dụng tại đồng ruộng.

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đang hướng tới việc cập nhật thông tin, quy trình hóa thành tài liệu, sổ tay hướng dẫn và chuyển tới lực lượng khuyến nông cơ sở, khuyến nông cộng đồng để hỗ trợ trực tiếp người dân.

Một góc nhìn khác được PGS.TS Đào Thế Anh đưa ra là biến đổi khí hậu không chỉ là rủi ro cần né tránh. Nếu có chiến lược đúng, khả năng thích ứng và giảm phát thải còn có thể trở thành một phần của thương hiệu nông sản Việt Nam. Thế giới đang đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong thích ứng với biến đổi khí hậu và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát thải thấp.

Việc một số sản phẩm gạo phát thải thấp tiếp cận các thị trường như Nhật Bản và EU là minh chứng cho thấy, yêu cầu môi trường có thể trở thành lợi thế cạnh tranh nếu được biến thành giá trị cụ thể trong sản phẩm.

Tư duy sản xuất nhờ đó đang thay đổi đáng kể. Trước đây, nông dân chủ yếu quan tâm đến năng suất, sản lượng và giá bán. Trong tương lai, một sản phẩm có thể phải trả lời thêm những câu hỏi: sản xuất có làm giảm phát thải không? Có bảo vệ môi trường không? Có bảo đảm trách nhiệm xã hội không? Có minh bạch nguồn gốc không?

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam vì thế không thể chỉ là công việc của cơ quan quản lý hay doanh nghiệp. PGS.TS Lê Quốc Thanh cho rằng, thương hiệu quốc gia là một câu chuyện dài và người trực tiếp tạo nên thương hiệu chính là người nông dân. Muốn cho thương hiệu đi được xa, được lâu thì đầu tiên là chúng ta phải sản xuất thực sự, trách nhiệm thực sự, minh bạch, thực sự an toàn.

Một thương hiệu có thể được quảng bá mạnh, nhưng nếu chất lượng không ổn định hoặc dữ liệu không minh bạch thì uy tín rất khó duy trì. Ngược lại, nếu từng vùng trồng duy trì được chất lượng, từng hộ tuân thủ quy trình, hợp tác xã tổ chức tốt vùng nguyên liệu và doanh nghiệp giữ được cam kết với thị trường, thương hiệu sẽ được tích lũy qua từng lô hàng.

Công nghệ chỉ là công cụ, yếu tố quyết định vẫn nằm ở năng lực và ý thức trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi giá trị. Từ góc nhìn đó, mã số vùng trồng đang thúc đẩy cuộc chuyển dịch toàn diện từ sản xuất có sản phẩm sang sản xuất có dữ liệu; từ đáp ứng một tiêu chuẩn sang tích hợp đa mục tiêu; từ thụ động ứng phó sang chủ động quản trị rủi ro và từ làm thương hiệu bằng quảng bá sang khẳng định bằng chất lượng có thể chứng minh. Trong nền nông nghiệp hiện đại, dữ liệu không còn đứng ngoài đồng ruộng mà đã trở thành thành tố cốt lõi tạo nên giá trị sản phẩm.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage