Giữ an toàn vùng chuối xuất khẩu sau mưa lũ

Tại Bắc Ninh, mưa lớn vừa qua làm gia tăng nguy cơ bệnh vàng lá, thối thân và bọ giáp trên chuối, nông dân cần tăng cường giám sát, xử lý sớm.
Kiểm soát ngay nguồn bệnh sau mưa
Sau mưa lớn, nhiều diện tích chuối tại Bắc Ninh bị gãy đổ, ngập úng, bộ rễ tổn thương. Đất ẩm kéo dài cùng tàn dư thực vật trên đồng ruộng tạo điều kiện cho sinh vật gây hại phát sinh, lây lan.
Cây chuối đang được phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với xây dựng mã số vùng trồng và mở rộng thị trường. Vì vậy, kiểm soát dịch hại sau mưa lũ không chỉ nhằm bảo vệ năng suất mà còn góp phần duy trì chất lượng sản phẩm, ổn định đầu ra, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Đáng chú ý trong thời điểm này là bệnh vàng lá, héo rũ do nấm gây ra. Bệnh có thể xuất hiện ở nhiều giai đoạn sinh trưởng của cây. Triệu chứng thường bắt đầu trên các lá già, lá chuyển vàng rồi héo dần, bẹ lá có thể chuyển vàng nâu đến thâm đen. Khi bệnh phát triển nặng, cây sinh trưởng kém, ảnh hưởng đến buồng quả và có thể chết.
Theo ông Vũ Trí Đồng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV Bắc Ninh, sau mưa lớn, bệnh vàng lá, thối thân trên chuối có nguy cơ gia tăng trên diện rộng. Các vùng sản xuất cần kiểm soát ngay từ đầu để hạn chế bệnh lây lan, bảo đảm chất lượng chuối.
Việc phòng bệnh cần bắt đầu từ khâu giống. Người dân cần sử dụng cây giống khỏe, có nguồn gốc rõ ràng, ưu tiên cây giống nuôi cấy mô sạch bệnh, không lấy chồi giống từ những vườn đã xuất hiện bệnh.
Sau mưa, việc kiểm tra đồng ruộng cần được thực hiện thường xuyên, nhất là những khu vực bị ngập úng hoặc có cây gãy đổ. Những cây có biểu hiện vàng lá, sinh trưởng kém hoặc dấu hiệu bất thường cần được phát hiện, đánh dấu và khoanh vùng để xác định nguyên nhân.
Khi nghi nhiễm bệnh, người dân không tự ý vận chuyển cây bệnh, đất, tàn dư thực vật hoặc vật liệu sản xuất ra khỏi khu vực. Cây bệnh và tàn dư thực vật cần được thu gom, xử lý theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.
Việc tiêu thoát nước cần được thực hiện khẩn trương, tránh để đất trong vườn bị ngập úng kéo dài. Nước chảy mặt từ khu vực có cây bệnh cần được kiểm soát, hạn chế nguy cơ phát tán mầm bệnh sang diện tích chưa nhiễm.
Dụng cụ làm đất, dao, cuốc, xẻng và phương tiện phục vụ sản xuất cần được vệ sinh, khử trùng phù hợp, nhất là khi chuyển từ khu vực có nguy cơ nhiễm bệnh sang khu vực an toàn.
Giữ mã số vùng trồng
Bên cạnh bệnh vàng lá, thối thân, bọ giáp cũng là đối tượng cần được theo dõi tại các vùng chuối. Khi mật độ cao, đối tượng này có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức khỏe của cây.
Người trồng cần thường xuyên kiểm tra vườn, chú ý các vị trí như bẹ lá, nõn lá để phát hiện sớm. Khi xuất hiện bọ giáp, cần xác định chính xác đối tượng, theo dõi mật độ và mức độ gây hại trước khi lựa chọn biện pháp xử lý.
Các biện pháp canh tác, vệ sinh vườn, biện pháp cơ học và sinh học cần được ưu tiên. Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thực sự cần thiết.
Đặc biệt với chuối phục vụ xuất khẩu, việc sử dụng thuốc phải tuân thủ đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng cách, đồng thời bảo đảm thời gian cách ly trước thu hoạch. Tuyệt đối không sử dụng thuốc ngoài danh mục cho phép và phải tuân thủ các yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Công tác quản lý dịch hại phải gắn chặt với mã số vùng trồng. Các hộ sản xuất, HTX cần phân công người theo dõi sinh vật gây hại, xây dựng lịch kiểm tra và ghi chép đầy đủ tình hình phát sinh, diện tích hoặc số cây bị hại, biện pháp xử lý và kết quả sau xử lý.
Đây là cơ sở để truy xuất nguồn gốc, đánh giá diễn biến dịch hại và kiểm soát quá trình sản xuất khi có yêu cầu từ doanh nghiệp hoặc thị trường nhập khẩu.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm, một vùng trồng muốn duy trì mã số không thể chỉ dựa vào năng suất. Từng hộ phải tuân thủ quy trình, từng cây bị bệnh phải được phát hiện và xử lý kịp thời, từng lần sử dụng thuốc phải được ghi chép đầy đủ.
Với diện tích 1.565ha và sản lượng gần 21.000 tấn, chuối là ngành hàng có tiềm năng phát triển sản xuất hàng hóa tại Bắc Ninh. Kiểm soát tốt dịch hại sau mưa lũ vì thế không chỉ là giải pháp trước mắt để phục hồi vườn cây mà còn là yêu cầu căn bản để bảo vệ vùng trồng, giữ mã số và duy trì thị trường xuất khẩu lâu dài.