🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Giữ giá trị ở lại vùng nguyên liệu: [Bài 1] Hành trình của hạt cà phê

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Giữ giá trị ở lại vùng nguyên liệu: [Bài 1] Hành trình của hạt cà phê

Từ vườn cà phê Hướng Phùng, hạt Arabica đi từ quả tươi đến cà phê nhân, rang xay hoặc sản phẩm đặc sản. Nhưng giá trị tăng thêm ở lại với ai?

LTS: Từ một quả cà phê trên sườn đồi Hướng Phùng đến một gói cà phê đặc sản, hạt Arabica phải đi qua nhiều bàn tay và công đoạn. Giá trị vì thế được tạo thêm trên hành trình ấy. Nhưng phần giá trị tăng thêm đang ở lại với ai?

Loạt bài “Giữ giá trị ở lại vùng nguyên liệu" lần theo hành trình của hạt cà phê để tìm lời giải cho một câu hỏi: làm thế nào để hạt cà phê đi xa mà giá trị vẫn ở lại với vùng đất đã sinh ra nó?

Khe Sanh có vùng nguyên liệu cà phê. Những người trồng đang thay đổi cách làm, các HTX và cơ sở chế biến từng bước nâng chất lượng sản phẩm. Song giữa nguyên liệu và sản phẩm có giá trị cao vẫn còn một khoảng cách: liên kết chưa đủ chặt, vùng nguyên liệu chưa đồng đều, thị trường chưa đủ sức kéo nhiều hơn sản phẩm đi sâu vào chuỗi.

Sáng sớm ở thôn Doa Mã Lai, xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị, ông Lê Tráng đã có mặt trong vườn cà phê rộng 1 ha. Những hàng cây trải dài theo sườn đất. Có cây đã già, cành mang quả thưa dần; cũng có cây được thay bằng giống mới, tán khỏe, quả sai hơn.

Ông Tráng là người gốc Hải Lăng, lên Hướng Phùng lập nghiệp. Trước đây, cà phê thu hái về chủ yếu bán quả tươi cho nhà máy. Quả xanh, quả chín nhiều khi được hái lẫn. Với người trồng, điều quan trọng nhất là thu được sản phẩm và bán nhanh.

Bây giờ, cách làm đã khác. Những quả chưa đạt độ chín bị loại khỏi quy trình. Người trồng chú ý tỷ lệ quả chín, giữ vườn sạch, thay đổi cách chăm bón. Gia đình ông Tráng cũng chuyển dần sang sử dụng phân vi sinh, chú trọng phục hồi cây sau thu hoạch.

“Cà phê làm kỹ thì giá cao hơn, nhưng công chăm sóc cũng nhiều hơn”, ông Tráng nói.

Theo ông Tráng, năm 2025, 1 ha cà phê của gia đình cho gần 20 tấn quả tươi, giá bán bình quân khoảng 26.000 đồng/kg. Những lô đạt yêu cầu chất lượng cao có thể cao hơn cà phê thu mua thông thường khoảng 5.000-7.000 đồng/kg.

Khoảng chênh ấy không lớn nếu nhìn trên một kilogram. Nhưng với hàng nghìn kg cà phê, đó là khoản tiền đủ để quyết định người trồng có tiếp tục đầu tư cho vườn hay không.

Từ quả tươi đến giá trị cao hơn

Theo số liệu Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị cung cấp, mô hình 146 ha sử dụng phân bón sản xuất từ phụ phẩm cà phê cho thấy năng suất tăng từ khoảng 7-8 tấn quả tươi/ha lên 12-15 tấn/ha; chi phí phân bón và vật tư đầu vào giảm khoảng 2-3 triệu đồng/ha.

Điều đáng chú ý không chỉ là năng suất. Phụ phẩm sau chế biến cũng có thể được quay trở lại phục vụ vùng trồng, giúp giảm chi phí và giữ thêm giá trị ở nơi sản xuất.

Một kg quả tươi bán cho nhà máy với giá thông thường sẽ tạo ra giá trị khác với cùng lượng nguyên liệu được thu hái chọn lọc, sơ chế đúng quy trình, phân loại, chế biến và bán dưới thương hiệu cà phê đặc sản.

Anh Nguyễn Duy Phương, Giám đốc HTX Nông nghiệp Sinh thái Bốn Phương, hiểu điều đó từ những năm tháng làm thương lái.

Năm 2001, từ Nghệ An vào Hướng Phùng thăm người cậu, anh quyết định ở lại vùng đất này. Ban đầu, anh mở quán cà phê nhưng lại phải mua bột cà phê từ nơi khác về bán.

Năm 2011, anh bắt đầu thu mua quả cà phê tươi để đưa cho các nhà máy. Sau nhiều năm gắn với chế biến, anh nhận ra giá trị không chỉ nằm ở việc bán thật nhanh một bao cà phê, mà nằm ở khả năng giữ chất lượng và đưa sản phẩm đến thị trường cuối cùng.

HTX Nông nghiệp Sinh thái Bốn Phương hiện tham gia các khâu từ vùng trồng, sơ chế đến đóng gói. Sản phẩm Bốn Phương coffee của HTX được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia năm 2025.

Nhưng danh hiệu ấy không tự trả lời câu hỏi người trồng giữ lại được bao nhiêu?

Giá trị nằm ở khâu nào?

Theo anh Nguyễn Duy Phương, năm 2025, cà phê quả tươi được một số nhà máy thu mua khoảng 20.000 đồng/kg. Những cơ sở làm cà phê đặc sản có thể trả cao hơn khoảng 5.000-7.000 đồng/kg, tùy chất lượng. Cà phê nhân thông thường có thể bán khoảng 140.000-170.000 đồng/kg; sản phẩm đặc sản có giá trên 280.000 đồng/kg.

Các mức giá này không thể quy đổi trực tiếp thành lợi nhuận, bởi từ quả tươi đến cà phê nhân phải qua hao hụt, sơ chế, chế biến, bảo quản, nhân công và nhiều chi phí khác. Tuy vậy, những con số cho thấy một khoảng giá trị đáng kể được tạo ra sau khi quả cà phê rời khỏi vườn. Vấn đề là người trồng có được hưởng phần nào trong khoảng giá trị ấy hay không.

Ở thôn Phùng Lâm, xã Hướng Phùng, gia đình chị Hồ Thị Vân có 1,2 ha cà phê. Vườn cây là nguồn sinh kế của gia đình, nhưng chị chưa thể liên kết với HTX Nông nghiệp Sinh thái Bốn Phương.

Lý do không nằm ở việc người trồng không muốn làm cà phê chất lượng cao, mà HTX chưa đủ khả năng bao tiêu toàn bộ đầu ra cho các hộ có nhu cầu liên kết.

Đó là một nghịch lý: vùng nguyên liệu có, người dân muốn nâng chất lượng có, HTX muốn mở rộng liên kết cũng có, nhưng thị trường chưa đủ sức hấp thụ để tất cả cùng bước vào một chuỗi thống nhất.

"Nút thắt" hai chiều

Người trồng muốn có giá tốt mới dám bỏ thêm công sức để hái quả chín, chăm sóc vườn, sử dụng phân hữu cơ, thay giống và đầu tư tái canh.

Phía còn lại là HTX, doanh nghiệp. Muốn ký hợp đồng bao tiêu dài hạn, họ phải có thị trường ổn định. Nếu sản phẩm làm ra không bán được, càng thu mua nhiều càng chịu rủi ro về vốn và tồn kho.

Bà Nguyễn Hồng Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, nhìn nhận đây là vấn đề của cả chuỗi chứ không phải riêng một khâu.

Cà phê Khe Sanh đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 148 theo Quyết định số 699/QĐ-SHTT ngày 4/11/2025. Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho cà phê Arabica ở dạng cà phê nhân, hạt rang và cà phê bột; UBND xã Khe Sanh là tổ chức quản lý.

Nhưng một văn bằng bảo hộ không tự làm nguyên liệu đồng đều hơn, không tự tạo đầu ra và cũng không tự quyết định phần giá trị nào quay về người trồng.

Câu chuyện vì thế không thể bắt đầu và kết thúc ở nhà máy. Nó bắt đầu từ một quả cà phê chín được hái đúng lúc; đi qua sân sơ chế, máy xát, hệ thống phơi, kho bảo quản, dây chuyền rang xay, bao bì, thương hiệu và cuối cùng là người tiêu dùng.