Khơi thông nguồn vốn, tạo động lực kinh tế để giảm phát thải chăn nuôi

Giảm thiểu khí nhà kính trong chăn nuôi cần hỗ trợ vốn đầu tư, gắn với lợi ích kinh tế, nâng cao nhận thức và hoàn thiện dữ liệu.
Chăn nuôi vừa bảo đảm nguồn thực phẩm, sinh kế cho hàng triệu nông dân, vừa đặt ra yêu cầu kiểm soát khí nhà kính khi quy mô sản xuất mở rộng. Nhiều giải pháp kỹ thuật đã được áp dụng, nhưng khả năng đầu tư và lợi ích kinh tế vẫn là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người nuôi.
TS. Phạm Thanh Lan, Khoa Kinh tế và Quản lý, Nhóm Nghiên cứu mạnh Kinh tế và Quản lý tài nguyên môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng muốn giảm phát thải hiệu quả cần tháo gỡ đồng thời các rào cản về kĩ thuật công nghệ, tài chính, nhận thức và dữ liệu.
Chi phí đầu tư cản bước hộ chăn nuôi
Trong chăn nuôi, khí methane chủ yếu phát sinh từ quá trình tiêu hóa của động vật nhai lại; chất thải chăn nuôi là nguồn phát sinh khí N₂O. Hoạt động sản xuất thức ăn, sử dụng phân bón, vận chuyển nguyên liệu và tiêu thụ năng lượng cũng góp phần làm gia tăng phát thải khí nhà kính.
TS. Phạm Thanh Lan cho biết, theo thống kê, năm 2025, Việt Nam có khoảng 7,8 triệu con trâu bò, 26,7 triệu con lợn và gần 598 triệu con gia cầm. Quy mô đàn vật nuôi gia tăng kéo theo áp lực kiểm soát phát thải khí nhà kính trong quá trình sản xuất.
Giữa các loài vật nuôi, mức phát thải methane từ quá trình tiêu hóa có sự khác biệt. Số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) năm 2022 cho thấy, bò sữa có hệ số phát thải là 78 kg/con/năm; trâu là 76 kg/con/năm; bò thịt là 54 kg/con/năm; ngựa là 18 kg/con/năm; dê và cừu là 5 kg/con/năm.
Bà Lan cho rằng dù hệ số phát thải của bò thịt và trâu thấp hơn bò sữa, nhưng số lượng nuôi lớn khiến tổng lượng methane phát sinh từ hai nhóm này cao hơn. Điều đó cho thấy việc lựa chọn giải pháp cần tính đến cả đặc điểm vật nuôi và quy mô đàn.
Thực tế, các doanh nghiệp, trang trại và hộ chăn nuôi đã áp dụng nhiều biện pháp như cải thiện khẩu phần ăn cho động vật nhai lại, sử dụng đệm lót sinh học, hầm biogas, ủ phân compost. Một số cơ sở chú trọng tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo và ứng dụng công nghệ để giám sát quá trình sử dụng.
Tuy nhiên, theo TS. Phạm Thanh Lan, rào cản đầu tiên nằm ở công nghệ và chi phí. Phần lớn cơ sở chăn nuôi trong nước vẫn ở quy mô nông hộ, nhỏ lẻ, thiếu vốn đầu tư hệ thống xử lý chất thải, biogas hoặc cải thiện khẩu phần thức ăn để giảm phát thải methane.
Khi nguồn lực hạn chế, việc đầu tư cho các hạng mục này gặp khó khăn. Vì vậy, yêu cầu giảm phát thải cần đi cùng giải pháp hỗ trợ phù hợp với khả năng của cơ sở sản xuất, nhất là những hộ có quy mô nhỏ. Rào cản tiếp theo là nhận thức và động lực kinh tế. Nhiều người chăn nuôi chưa coi giảm khí nhà kính là ưu tiên do thiếu cơ chế tài chính khuyến khích cụ thể.
Cùng với vốn và động lực kinh tế, hệ thống dữ liệu phát thải còn thiếu. Hệ số phát thải đặc thù cho từng loại hình chăn nuôi, từng vùng sinh thái chưa đầy đủ; năng lực đo đạc, báo cáo, thẩm định ở cơ sở và địa phương còn hạn chế, gây khó khăn cho việc xây dựng chính sách và đánh giá hiệu quả.
Gắn giảm phát thải với lợi ích người nuôi
Để tháo gỡ những rào cản này, trước hết cần có chính sách hỗ trợ tài chính ban đầu. Các hạng mục hỗ trợ gồm hệ thống biogas, mô hình xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn và sử dụng năng lượng tái tạo.
Hỗ trợ vốn đầu tư cần gắn với việc tạo động lực kinh tế cho người sản xuất. Cần xây dựng cơ chế khuyến khích dán nhãn sản phẩm phát thải thấp, qua đó tạo thêm cơ sở để người chăn nuôi quan tâm, đầu tư cho các biện pháp giảm khí nhà kính.
Một hướng đi khác là tận dụng chất thải để tạo thêm giá trị. Thay vì chỉ xử lý chất thải, các cơ sở chăn nuôi có thể sử dụng nguồn nguyên liệu này làm phân bón hữu cơ hoặc tạo năng lượng tái tạo, phù hợp với định hướng kinh tế tuần hoàn. Khi chất thải được tận dụng, hoạt động bảo vệ môi trường có thêm sự gắn kết với hiệu quả sản xuất.
Bên cạnh hỗ trợ vốn, công tác truyền thông và tập huấn kỹ thuật cần giúp người chăn nuôi hiểu rõ lợi ích của từng biện pháp. Nội dung hướng dẫn phải làm rõ khả năng vừa bảo vệ môi trường, vừa cải thiện hiệu quả sản xuất. Đây cũng là cách tạo động lực thiết thực để người nuôi thay đổi phương thức sản xuất. Khi hiểu được lợi ích kinh tế gắn với kỹ thuật giảm phát thải, họ sẽ có thêm cơ sở cân nhắc đầu tư, thay vì chỉ nhìn nhận đây là một yêu cầu về môi trường.
Về lâu dài, cần xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu hệ số phát thải theo từng loại vật nuôi, hình thức chăn nuôi và vùng miền. Đồng thời, cần củng cố năng lực đo đạc, báo cáo, thẩm định tại địa phương và doanh nghiệp để đánh giá kết quả giảm phát thải. Dữ liệu và năng lực giám sát là nền tảng để chăn nuôi từng bước tham gia thị trường tín chỉ carbon trong nước và quốc tế.
Theo TS. Phạm Thanh Lan, lộ trình giảm phát thải cần đồng bộ, phù hợp khả năng của người sản xuất, gắn mục tiêu bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.