Khoa học công nghệ tạo sức bật cho nông nghiệp đô thị TP.HCM
Khoa học công nghệ đang tạo sức bật mới, giúp nông nghiệp TP.HCM gia tăng giá trị và phát triển bền vững giữa bối cảnh áp lực đô thị hóa và biến đổi khí hậu.
Giữa siêu đô thị năng động bậc nhất cả nước, nơi các tòa nhà cao tầng, khu công nghiệp và trung tâm thương mại liên tục mọc lên, nông nghiệp như một mảng màu khá khiêm tốn trong bức tranh kinh tế TP.HCM.
Hiện ngành nông nghiệp chỉ đóng góp khoảng 1,7% GRDP của Thành phố. Tuy nhiên, giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp lại lên tới hơn 50.000 tỷ đồng/năm, đồng thời đảm nhận vai trò đặc biệt: bảo đảm nguồn cung thực phẩm cho đô thị lớn nhất cả nước.
Bí thư Thành ủy TP.HCM Trần Lưu Quang nhấn mạnh: Nông nghiệp cần được xem là một trong những ngành có vai trò quan trọng của Thành phố, đặc biệt trong việc cung cấp và bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm. Trong bối cảnh dân số ngày càng tăng, nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn và những biến động khó lường từ thị trường cũng như khí hậu, vai trò ấy càng trở nên rõ nét hơn.
Sau khi mở rộng không gian phát triển, TP.HCM hiện có khoảng 428.645ha đất nông nghiệp, chiếm hơn 63% tổng diện tích tự nhiên. Do đó, dư địa cho phát triển sản xuất nông nghiệp còn rất lớn.
Tuy nhiên, UBND TP.HCM cũng nhìn nhận đây cũng là giai đoạn ngành nông nghiệp phải đối mặt với hàng loạt sức ép mới: Đô thị hóa diễn ra nhanh hơn, biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ nét đến sản xuất, trong khi yêu cầu của thị trường đối với chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe.
Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp truyền thống không còn phù hợp. Thay vì mở rộng diện tích hay gia tăng sản lượng bằng mọi giá, TP.HCM lựa chọn nâng giá trị trên đơn vị sản xuất. Từ nhiều năm nay, TP.HCM đã sớm định hình nông nghiệp đô thị trong quy hoạch, sản xuất và coi đây là hướng đi riêng, bắt buộc.
Giá trị sản xuất bình quân trên mỗi hecta đất nông nghiệp của TP.HCM hiện đạt khoảng 550 triệu đồng/năm, tăng khoảng 1,5 lần so với năm 2015. Năng suất lao động của ngành tăng bình quân 21% mỗi năm. Điều đó cho thấy sự chuyển dịch rất rõ từ nền nông nghiệp dựa vào diện tích sang chú trọng vào giá trị gia tăng.
Theo ông Võ Thành Giàu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số đang trở thành những trụ cột quan trọng của ngành trong giai đoạn tới. Sau nhiều năm đầu tư và thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, quá trình chuyển đổi này đã hiện diện khá rõ trên nhiều lĩnh vực sản xuất.
Toàn Thành phố hiện có 692 cơ sở ứng dụng công nghệ cao với diện tích gieo trồng hơn 18.400ha. Những mô hình nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới tiết kiệm, cảm biến điều khiển nhiệt độ và độ ẩm hay các giải pháp ứng dụng năng lượng mặt trời ngày càng trở nên quen thuộc. Không ít nông dân giờ đây có thể theo dõi tình trạng sản xuất ngay trên điện thoại thông minh thay vì hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm như trước.
“Thành phố hiện có hơn 20.300ha sản xuất được chứng nhận VietGAP với sản lượng hơn 365.000 tấn/năm và 24 cơ sở với gần 250ha đạt chứng nhận nông nghiệp hữu cơ. Công tác cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu cũng được đẩy mạnh, tạo điều kiện để nông sản tham gia sâu hơn vào các thị trường quốc tế”, ông Giàu thông tin.
Công nghệ cũng đang dần thay đổi cách thức sản xuất truyền thống trong mảng chăn nuôi. Toàn Thành phố hiện có gần 800 trang trại chăn nuôi heo, bò và gia cầm ứng dụng công nghệ cao. Từ hệ thống quản lý đàn bằng cảm biến, cơ giới hóa trong vắt sữa, kiểm soát tiểu khí hậu chuồng nuôi đến các giải pháp xử lý chất thải bằng biogas, nhiều công nghệ từng chỉ xuất hiện trong các mô hình thí điểm nay đã trở thành công cụ sản xuất thường nhật.
Định hướng đến năm 2030, TP.HCM có khoảng 1.000ha nuôi tôm công nghệ cao, áp dụng các mô hình nuôi hai giai đoạn, hệ thống tuần hoàn khép kín và công nghệ số kiểm soát môi trường nuôi. Chỉ tính riêng khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu có khoảng 700ha đã ứng dụng công nghệ cao vào nuôi thủy sản. Trong đó, tiêu biểu là các cơ sở nuôi của Công ty Minh Phú - Lộc An, Công ty Phước Hải, Mạnh Cường, HTX Chợ Bến... Điều này không chỉ giúp việc nuôi trồng thủy sản được ổn định mà còn hạn chế rủi ro trong sản xuất, giảm đáng kể chi phí.
Cá cảnh - ngành hàng mang đậm dấu ấn của nông nghiệp đô thị TP.HCM tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với sản lượng hơn 250 triệu con mỗi năm, trong đó gần 14 triệu con được xuất khẩu, mang về giá trị hơn 15 triệu USD.
Giữa nhịp phát triển sôi động của một siêu đô thị, những cánh đồng, trang trại và vùng nuôi của TP.HCM cũng đang thay đổi, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt so với trước đây.
Trước đây, nông dân thường phải “tay lấm chân bùn”, bận rộn với những cuốn sổ ghi chép và những kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm sản xuất. Thế nhưng hiện nay, những công nghệ thông minh, hệ thống cảm biến môi trường, phần mềm quản lý sản xuất và các thiết bị tự động hóa đã được nông dân ứng dụng rộng rãi trong từng công đoạn sản xuất.
Trên những giàn rau thủy canh tại HTX Nông nghiệp Tuấn Ngọc (phường Long Trường), nông dân không còn phải tất bật tưới nước hay bón phân cho cây trồng như trước đây. Thay vào đó, phần lớn công việc được thực hiện thông qua hệ thống cảm biến, phần mềm quản lý và các thiết bị tự động.
Hiện HTX đang sở hữu khoảng 7.000m² sản xuất ứng dụng công nghệ cao tại TP.HCM, Đồng Nai, Khánh Hòa. Riêng tại TP.HCM, các mô hình được triển khai ở phường Long Trường, xã Châu Pha và Củ Chi.
Theo ông Lâm Ngọc Tuấn, Giám đốc HTX, nhờ ứng dụng công nghệ, HTX tiết kiệm được nhân công, tăng đáng kể năng suất trên cùng đơn vị diện tích. Với khoảng 1.000m² rau thủy canh, sản lượng bình quân của HTX đạt từ 80 - 120kg mỗi ngày, gấp khoảng 5 lần so với phương thức canh tác truyền thống.
"Nếu sản xuất theo cách thông thường, để có sản lượng tương đương phải cần từ 1 - 2ha đất. Trong khi đó, công nghệ cho phép chúng tôi tạo ra giá trị cao hơn rất nhiều trên diện tích nhỏ hơn rất nhiều", ông Tuấn chia sẻ.
Theo đó, mọi thông số về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng hay dinh dưỡng đều được hệ thống cảm biến ghi nhận và cập nhật liên tục về điện thoại của người quản lý. Nhiều công đoạn như tưới phun sương, thông gió, điều chỉnh nhiệt độ hay che nắng được tự động hóa, giúp cây trồng phát triển trong điều kiện tối ưu.
Ở phía bắc của Thành phố, Công ty Cổ phần Nông nghiệp U&I (Unifarm) được xem là một trong những lá cờ đầu về ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Unifarm đang triển khai công nghệ nhà kính, hệ thống tưới nhỏ giọt tự động kết hợp châm phân chính xác và phần mềm quản lý trang trại của Israel.
Theo ông Phạm Quốc Liêm, Chủ tịch Unifarm, các thông số về nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng được giám sát liên tục thông qua hệ thống cảm biến và phần mềm chuyên dụng, giúp người quản lý có thể theo dõi và điều khiển sản xuất từ xa.
Ít ai biết cách đây hơn 15 năm, khi khái niệm nông nghiệp công nghệ cao còn khá mới mẻ ở Việt Nam, Unifarm đã mạnh dạn đầu tư những nhà kính trị giá hàng chục tỷ đồng/ha để trồng dưa lưới. Đây cũng là một trong những đơn vị đầu tiên trồng thành công dưa lưới trong nhà kính quy mô 1ha bằng hệ thống điều khiển tự động nhập khẩu từ Israel và đạt tiêu chuẩn GlobalGAP ngay từ những vụ sản xuất đầu tiên.
Công nghệ nuôi cấy mô của Unifarm cũng được ứng dụng để sản xuất hàng triệu cây giống sạch bệnh mỗi năm, góp phần nâng cao chất lượng và năng suất sản xuất nông nghiệp. Trong đó, chương trình phát triển giống chuối cấy mô là ví dụ tiêu biểu.
Thay vì nhân giống bằng chồi truyền thống với nguy cơ mang theo mầm bệnh và chất lượng không đồng đều, các nhà khoa học tại Unifarm sử dụng công nghệ nuôi cấy mô để tạo ra những cây giống đồng nhất về đặc tính di truyền, sạch bệnh và có khả năng sinh trưởng ổn định. Quá trình sản xuất được thực hiện trong phòng thí nghiệm vô trùng, nhiều công đoạn được tự động hóa, giúp rút ngắn thời gian nhân giống và tạo ra số lượng cây giống lớn trong thời gian ngắn.
Theo các chuyên gia, giống chuối cấy mô không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu nhờ tính đồng đều về kích thước, chất lượng quả và khả năng truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là nền tảng để xây dựng những vùng nguyên liệu quy mô lớn, hướng tới mục tiêu đưa ngành hàng chuối xuất khẩu tỷ đô trong tương lai.
Trong lĩnh vực thủy sản, những chuyển động tương tự cũng đang diễn ra tại Công ty Thủy sản Minh Phú - Lộc An (xã Phước Hải). Trên diện tích khoảng 300ha với hàng trăm ao nuôi và ao xử lý nước, doanh nghiệp đã xây dựng mô hình nuôi tôm công nghệ cao dựa trên quản trị dữ liệu và công nghệ sinh học.
“Hệ thống cảm biến và thiết bị quan trắc giúp theo dõi liên tục các chỉ số môi trường như nhiệt độ, độ mặn, pH, oxy hòa tan và chất lượng nước, từ đó đưa ra các cảnh báo sớm nhằm hạn chế rủi ro dịch bệnh”, ông Nguyễn Văn Trường, Giám đốc Công ty cho biết.
Doanh nghiệp cũng đang ứng dụng công nghệ vi sinh, sử dụng nguồn nước biển sâu cùng hệ thống xử lý nước tuần hoàn và chế phẩm sinh học để kiểm soát môi trường nuôi. Nhờ đó, tỷ lệ sống của tôm đạt trên 85%, cao hơn đáng kể so với mức 60 - 70% ở nhiều mô hình nuôi truyền thống trong mùa mưa. Thời gian nuôi cũng được rút ngắn từ 5 - 10 ngày, góp phần giảm chi phí thức ăn, giảm sử dụng kháng sinh và nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ xuất khẩu.
Hiện TP.HCM ngày càng có nhiều doanh nghiệp, nhà khoa học và nhóm khởi nghiệp ứng dụng công nghệ số, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa để giải quyết các bài toán của ngành nông nghiệp.
Với quỹ đất sản xuất ngày càng chịu áp lực từ quá trình đô thị hóa như TP.HCM, khoa học công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ sản xuất mà đang trở thành động lực tăng trưởng mới của ngành nông nghiệp. Những năm gần đây, Thành phố đang chuyển từ sản xuất nông sản sang sản xuất công nghệ cho nông nghiệp.
Không chỉ ứng dụng công nghệ trên những cánh đồng lớn, các kĩ thuật hiện đại cũng được áp dụng trên từng mét vuông đất trong từng mô hình nông nghiệp đô thị. Các chương trình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật (IoT), tự động hóa, dữ liệu lớn và blockchain ngày càng xuất hiện nhiều trong sản xuất nông nghiệp, từ doanh nghiệp đến từng mái chung cư.
Tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM, các lĩnh vực nghiên cứu không còn bó hẹp ở cây trồng hay vật nuôi. Trọng tâm đang dịch chuyển sang công nghệ giống, công nghệ số, giải pháp quản lý sản xuất thông minh, nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp phát thải thấp.
Trước áp lực đô thị hóa, biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nông sản, ông Bùi Minh Thạnh, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM cho biết, Thành phố xác định khoa học công nghệ là động lực cốt lõi để tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Đây cũng là định hướng mà Thành ủy TP.HCM chỉ đạo, định hướng ngành nông nghiệp trong thời gian tới.
Thay vì phát triển theo chiều rộng, Thành phố tập trung thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số nhằm nâng cao giá trị gia tăng trên đơn vị diện tích.
“Hàng loạt chương trình, đề án đã được triển khai đồng bộ, từ phát triển giống cây, con và nông nghiệp công nghệ cao, phát triển nông nghiệp hữu cơ, công nghiệp sinh học đến thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ trong kinh tế tuần hoàn”, ông Bùi Minh Thạnh thông tin.
Song song đó, TP.HCM ban hành nhiều cơ chế hỗ trợ về tín dụng, khuyến nông, liên kết sản xuất - tiêu thụ, hỗ trợ lãi suất đầu tư và xúc tiến thương mại, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân mạnh dạn đổi mới mô hình sản xuất.
TP.HCM cũng đang tháo gỡ các điểm nghẽn lớn của nông nghiệp đô thị như tình trạng sản xuất phân tán, thiếu liên kết và khó hình thành các chuỗi giá trị đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Việc HĐND TP.HCM quyết định áp dụng Nghị quyết 21/2020/NQ-HĐND của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) về khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản được xem là bước đi quan trọng nhằm tạo động lực mới cho kinh tế hợp tác.
Theo ông Vũ Ngọc Đăng, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn TP.HCM, việc lựa chọn Nghị quyết 21 không chỉ nhằm thống nhất cơ chế chính sách trên địa bàn mới mà còn xuất phát từ hiệu quả đã được kiểm chứng trong thực tiễn.
Trước khi sáp nhập, Bà Rịa - Vũng Tàu đã triển khai 27 dự án liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản với tổng kinh phí hỗ trợ khoảng 70 tỷ đồng, hình thành nhiều mô hình hiệu quả trên các ngành hàng từ lúa, ca cao, sầu riêng, bưởi da xanh đến thủy sản. Nhờ tham gia các chuỗi liên kết, thu nhập của nông dân và hợp tác xã tăng từ 1,1 - 1,5 lần so với trước, nhiều sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính như Mỹ và Nhật Bản.
“Điểm nổi bật của Nghị quyết 21 là hỗ trợ toàn diện các mắt xích trong chuỗi giá trị, từ hạ tầng, máy móc thiết bị, vật tư đầu vào đến chuyển giao kỹ thuật, chứng nhận tiêu chuẩn và xúc tiến thương mại. Đây là những nội dung tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của hợp tác xã và doanh nghiệp”, ông Đăng nhấn mạnh.
Thực tế, ngay trong năm 2025, TP.HCM đã hỗ trợ 7 hợp tác xã và doanh nghiệp triển khai các mô hình liên kết điểm. Các đơn vị tham gia được hỗ trợ máy móc, thiết bị, hạ tầng sản xuất, chứng nhận VietGAP, GlobalGAP và quảng bá sản phẩm ra thị trường.
Nhờ liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thu mua, thị trường được cung cấp những sản phẩm chất lượng và giá trị cao hơn, đồng thời hạn chế tình trạng được mùa mất giá.
Trên nền tảng chính sách này, các công nghệ sinh học, tự động hóa, internet vạn vật (IoT), dữ liệu số và truy xuất nguồn gốc đang được ứng dụng ngày càng sâu rộng, giúp nâng cao năng suất, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và tăng sức cạnh tranh cho nông sản.
Mới đây, Thành ủy TP.HCM cũng đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, qua đó xác định rõ định hướng phát triển “tam nông” trong điều kiện đô thị đặc biệt.
Chương trình không chỉ nhấn mạnh mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng đô thị, công nghệ cao mà còn đặt trọng tâm vào việc tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với thị trường tiêu thụ và năng lực của doanh nghiệp. Đồng thời, Chương trình cũng nhấn mạnh việc thúc đẩy phát triển kinh tế hợp tác, xây dựng các vùng sản xuất tập trung và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp.
Chương trình đặt “tam nông” trong một chỉnh thể thống nhất, trong đó nông dân vừa là chủ thể sản xuất, vừa là trung tâm thụ hưởng thành quả phát triển. Đây chính là cơ sở để các chính sách không dừng ở hỗ trợ riêng lẻ mà hướng tới xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp có tổ chức, có liên kết và có khả năng thích ứng cao trong bối cảnh thị trường ngày càng biến động.
Trước đây, TP.HCM tập trung xây dựng nền nông nghiệp đô thị ứng dụng công nghệ cao. Tuy nhiên, giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Thành phố hướng tới vai trò trung tâm đổi mới sáng tạo về nông nghiệp của khu vực phía Nam. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ tiếp tục là nền tảng để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững.
Trong bối cảnh quỹ đất sản xuất ngày càng thu hẹp, lợi thế cạnh tranh của TP.HCM không nằm ở quy mô diện tích hay sản lượng mà ở khả năng tạo ra các công nghệ, giải pháp và mô hình sản xuất có giá trị gia tăng cao. Đây cũng là hướng đi để Thành phố từng bước khẳng định vai trò đầu tàu về nông nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo của cả nước.
Tin liên quan
Chính sách mở đường cho nông nghiệp công nghệ cao
TP.HCM Nhiều chính sách mới đang mở rộng hỗ trợ khuyến nông, chuyển đổi số, xây dựng vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, liên kết chuỗi, tạo động lực cho nông nghiệp công nghệ cao.
Hợp tác quốc tế kết nối chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao
Việc hợp tác này sẽ giúp ngành nông nghiệp TP.HCM đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, thương mại hóa nghiên cứu và đưa sản phẩm ra thị trường.
Khuyến khích tích tụ đất đai, phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Giai đoạn 2026-2030, Thanh Hóa đặt mục tiêu tích tụ, tập trung thêm ít nhất 50.000 ha đất nông nghiệp, tạo nền tảng phát triển sản xuất quy mô lớn, công nghệ cao.
Cần Thơ ‘rộng cửa’ đón dòng vốn đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao
Cần Thơ Sở hữu không gian nông nghiệp rộng lớn, TP Cần Thơ đang kêu gọi đầu tư nhiều dự án nông nghiệp công nghệ cao, hình thành các chuỗi giá trị nông sản bền vững.