🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Khuyến nông xứ 'đệ nhất danh trà': [Bài 3] Tư duy làm nông mới

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Khuyến nông xứ 'đệ nhất danh trà': [Bài 3] Tư duy làm nông mới

Đằng sau những mô hình khuyến nông là sự thay đổi trong tư duy sản xuất của nông dân.

Nếu mô hình nuôi bò tuần hoàn giúp người dân nhìn thấy giá trị từ những thứ từng bị coi là chất thải, mô hình gà H’Mông mở ra hướng khai thác giống vật nuôi bản địa thì với lợn Hương, câu chuyện lại tiến thêm một bước khi lấy chính lợi thế trà xanh của Thái Nguyên để tạo dấu ấn cho sản phẩm chăn nuôi.

Đằng sau những mô hình ấy là sự thay đổi trong tư duy sản xuất khi nông dân không chỉ hỏi “nuôi thế nào” mà còn quan tâm “bán cho ai” và “làm sao để sản phẩm có giá trị hơn”.

Khi đặc sản tìm thấy nhau

Ở Tân Cương - vùng đất vốn đã gắn chặt với cây chè và thương hiệu trà Thái Nguyên, mô hình chăn nuôi lợn Hương đang được triển khai theo một cách đặc biệt khi sử dụng bột trà xanh trong khẩu phần ăn.

Mô hình nằm trong dự án “Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn bản địa (lợn Hương) tạo vùng nguyên liệu sản phẩm OCOP”, thực hiện giai đoạn 2024 - 2026. Tại Thái Nguyên, dự án được triển khai với quy mô 350 con lợn, trong đó xã Tân Cương 200 con với 2 hộ tham gia, xã Đại Phúc 150 con với 2 hộ.

Việc đưa bột trà xanh - sản phẩm đặc trưng của Thái Nguyên vào khẩu phần ăn cho lợn Hương mở ra một hướng tiếp cận khác. Đó là cách kết nối những giá trị bản địa của những ngành hàng riêng biệt để tạo thành sản phẩm có câu chuyện và dấu ấn địa phương rõ hơn.

Dự án đặt mục tiêu 100% sản phẩm được liên kết tiêu thụ, hiệu quả kinh tế tăng ít nhất 10% so với chăn nuôi đại trà, đồng thời áp dụng các biện pháp an toàn sinh học để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.

Mục tiêu lớn hơn là hình thành một chuỗi giá trị từ giống bản địa, chăn nuôi an toàn, xây dựng vùng nguyên liệu đến kết nối hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường, qua đó phát triển sản phẩm OCOP.

Một mô hình trình diễn trước đây có thể được đánh giá chủ yếu bằng việc vật nuôi sinh trưởng ra sao, năng suất thế nào, hiệu quả kinh tế có cao hơn phương thức cũ hay không. Những tiêu chí ấy vẫn quan trọng, nhưng chưa đủ để một mô hình có thể tồn tại lâu dài sau khi nguồn hỗ trợ kết thúc.

Tham quan các mô hình khuyến nông tại Thái Nguyên, ông Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia bày tỏ ấn tượng trước hiệu quả triển khai các dự án cũng như sự chủ động của người dân trong việc tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất.

Theo ông Thanh, sau khi tiếp cận các dự án khuyến nông, nhiều hộ đã xây dựng thành công mô hình, chủ động mở rộng quy mô, tham gia hợp tác xã hoặc liên kết với hợp tác xã để phát triển sản xuất và tìm kiếm đầu ra.

“Các mô hình chúng ta tham quan phần lớn đã là mô hình nhân rộng, không còn chỉ dựa vào nguồn kinh phí khuyến nông ban đầu. Có mô hình người dân đã tự mở rộng quy mô lên hàng chục lần so với mức đầu tư hỗ trợ của Nhà nước. Điều đó cho thấy giải pháp khoa học - công nghệ đã được người dân tiếp nhận và ứng dụng vào thực tế”, ông Thanh chia sẻ.

Tại Thái Nguyên, cả ba nhóm mô hình được triển khai đều có điểm chung là không chỉ hỗ trợ xây dựng mô hình điểm mà đồng thời chuyển giao quy trình kỹ thuật, tổ chức tập huấn, tham quan, hội thảo, truyền thông và kết nối sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Cán bộ khuyến nông không chỉ hướng dẫn cách chăm sóc vật nuôi mà cùng người dân nhìn xa hơn tới thị trường và chuỗi giá trị.

Chuyển từ làm mô hình sang xây dựng phương thức sản xuất

Ông Chu Bá Trung, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông và Môi trường Thái Nguyên cho biết, các dự án khuyến nông quốc gia đã góp phần đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng lực của người dân và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn, hữu cơ, tuần hoàn, liên kết chuỗi giá trị và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Điểm đáng chú ý là các dự án ngày càng chú trọng gắn mô hình với sản phẩm và thị trường. Từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn, VietGAHP gắn với liên kết tiêu thụ, gà H’Mông gắn với xây dựng thương hiệu đến lợn Hương gắn với sản phẩm OCOP, cách tiếp cận đang dần chuyển từ “làm một mô hình” sang “xây dựng một phương thức sản xuất”.

Lợi thế của địa phương không chỉ nằm ở việc có cây chè nổi tiếng hay những giống vật nuôi đặc sản. Giá trị thực sự chỉ được tạo ra khi những lợi thế ấy được tổ chức lại thành sản phẩm hàng hóa, có tiêu chuẩn, có thương hiệu, có thị trường và có người sản xuất đủ năng lực để duy trì.

Những thay đổi ấy không diễn ra trong một sớm một chiều. Sản xuất nông nghiệp vẫn chịu tác động của thời tiết, dịch bệnh và giá vật tư đầu vào. Chính vì vậy, Trung tâm Khuyến nông và Môi trường Thái Nguyên tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan và địa phương theo dõi, hướng dẫn kỹ thuật, chủ động phòng ngừa rủi ro, đánh giá kết quả và lựa chọn những mô hình phù hợp để đề xuất nhân rộng.

Khuyến nông vì thế không nên chỉ được đo bằng số lớp tập huấn, số con giống hay lượng vật tư đã hỗ trợ. Giá trị sâu xa hơn nằm ở việc sau mỗi dự án, người dân có thể tự mình tiếp tục con đường đã được mở ra hay không.

Khi nông dân biết tự mở rộng quy mô, biết tham gia hợp tác xã, biết liên kết với doanh nghiệp, biết tính toán thị trường và khai thác nhiều giá trị từ cùng một nguồn lực, lúc đó mô hình khuyến nông mới thực sự hoàn thành sứ mệnh của mình.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đánh giá, đây là cách khai thác đặc sản địa phương theo tư duy đa giá trị. Tư duy ấy quan trọng ở chỗ nông dân không còn chỉ nhìn vào từng vật nuôi, từng cây trồng như những đối tượng sản xuất độc lập. Khi đặt chúng trong một hệ sinh thái sản phẩm của địa phương, mỗi lợi thế có thể bổ trợ cho lợi thế khác, cùng tạo nên một giá trị lớn hơn.

Lợn Hương vốn là giống lợn bản địa có tiềm năng phát triển thành sản phẩm đặc sản. Trà xanh lại là sản phẩm làm nên tên tuổi của Thái Nguyên. Khi hai yếu tố ấy được kết nối sẽ hướng tới xây dựng một sản phẩm mang bản sắc của vùng đất.