Lạng Sơn tạo lực nâng chất lượng sống vùng nông thôn

Gần 19.800 tỷ đồng dự kiến được huy động cùng nhiều giải pháp về sinh kế, hạ tầng, việc làm, môi trường để nâng cao đời sống cho người dân Lạng Sơn.
Theo Kế hoạch số 310/KH-UBND về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 vừa được UBND tỉnh Lạng Sơn ban hành, tỉnh đặt mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững; phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; giảm nghèo đa chiều, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và từng bước thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng, nhóm dân cư.
Đây được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, ngành và cả hệ thống chính trị trong giai đoạn 2026-2030. Nguồn lực sẽ được ưu tiên cho các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới, xã, thôn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn và thực hiện các chỉ tiêu giảm nghèo.
37 xã đạt chuẩn nông thôn mới
Đến hết năm 2030, Lạng Sơn phấn đấu có 37/61 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 60,7%, trong đó có 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại. Tỉnh đặt mục tiêu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm bình quân 2% mỗi năm. Thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2030 phấn đấu gấp 3 lần năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước.
Cùng với nâng thu nhập, nhiều chỉ tiêu về hạ tầng và đời sống được đặt ra. Đến năm 2030, tỷ lệ đường xã được rải nhựa hoặc bê tông đạt 97%; 96% thôn có đường ô tô đến trung tâm thôn được cứng hóa. Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn đạt từ 80% trở lên; 100% xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã.
Đối với môi trường nông thôn, Lạng Sơn phấn đấu nâng tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt tại khu dân cư được thu gom, phân loại và xử lý lên từ 90% trở lên. Các mô hình thôn sinh thái, khu dân cư kiểu mẫu, trồng cây xanh, cải tạo cảnh quan tiếp tục được triển khai gắn với vai trò tự quản của cộng đồng.
Việc đầu tư hạ tầng trong giai đoạn mới sẽ ưu tiên những công trình phục vụ trực tiếp sản xuất và đời sống như giao thông, thủy lợi, công trình phúc lợi xã hội. Các xã, thôn đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, an toàn khu và những xã nằm trong lộ trình đạt chuẩn nông thôn mới được ưu tiên bố trí nguồn lực. Ở giai đoạn này, cấp xã được giao vai trò trực tiếp hơn trong tổ chức thực hiện.
Theo kế hoạch, việc chỉ đạo được thực hiện theo hướng phân cấp mạnh cho cấp xã theo thẩm quyền; cấp tỉnh định hướng, hỗ trợ, còn cấp ủy, chính quyền cơ sở và người dân trực tiếp tổ chức thực hiện, giám sát. Người dân tham gia từ quá trình lập kế hoạch đến triển khai các nội dung của Chương trình.
Sinh kế đi cùng phát triển sản xuất
Phát triển kinh tế nông thôn được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trong 5 năm tới. Lạng Sơn sẽ khai thác lợi thế từng vùng, phát triển các vùng sản xuất nông, lâm nghiệp chủ lực tập trung, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Nguồn vốn sự nghiệp của Chương trình được sử dụng để xây dựng, nhân rộng các mô hình sinh kế, hỗ trợ phát triển sản xuất và giảm nghèo phù hợp với điều kiện từng địa phương. Các xã, thôn đặc biệt khó khăn và khu vực biên giới tiếp tục là những địa bàn được ưu tiên.
Kinh tế tập thể, hợp tác xã, tổ hợp tác tiếp tục được củng cố gắn với khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Với Chương trình OCOP, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 200 sản phẩm còn hạn, trong đó ít nhất 20 sản phẩm đạt 4 sao và một sản phẩm đạt 5 sao.
Các sản phẩm nông sản hàng hóa địa phương sẽ được hỗ trợ chứng nhận, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường thông qua hội chợ, hội nghị, diễn đàn thương mại và xúc tiến đầu tư. Ngành nghề nông thôn, du lịch nông thôn được phát triển theo hướng cộng đồng, sinh thái, trải nghiệm nông nghiệp gắn với bảo tồn thiên nhiên và văn hóa bản địa.
Bài toán việc làm cũng được đặt ra cùng với phát triển sinh kế. Đến năm 2030, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh phấn đấu đạt từ 76% trở lên, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%. Hoạt động đào tạo nghề, kết nối cung - cầu lao động trong và ngoài tỉnh, hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tiếp tục được triển khai. Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được đưa sâu hơn vào sản xuất và đời sống. Lạng Sơn sẽ phát triển, nhân rộng các mô hình thôn thông minh, nông nghiệp thông minh phù hợp với điều kiện thực tế từng địa bàn.
Huy động gần 19.800 tỷ đồng
Để thực hiện các mục tiêu trong giai đoạn 2026-2030, Lạng Sơn dự kiến cần khoảng 19.757,354 tỷ đồng. Nguồn lực được huy động từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án, vốn tín dụng và các nguồn hợp pháp khác.
Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp cho Chương trình dự kiến 4.789,354 tỷ đồng, chiếm 24,24%. Nguồn vốn giai đoạn 2021-2025 kéo dài sang thực hiện trong năm 2026 là 1.220,783 tỷ đồng.
Ngân sách Trung ương dự kiến bố trí 2.604,72 tỷ đồng, gồm 1.868,9 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển và 735,82 tỷ đồng kinh phí thường xuyên. Ngân sách địa phương đối ứng giai đoạn 2026-2030 tối thiểu 963,75 tỷ đồng.
Ngoài ra, tỉnh dự kiến huy động 4.468 tỷ đồng vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác. Trong số này, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa dự kiến 2.768 tỷ đồng; Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo 700 tỷ đồng; Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển 1.000 tỷ đồng.
Nguồn vốn tín dụng dự kiến khoảng 10.000 tỷ đồng, chiếm 50,61% tổng nguồn lực. Khoảng 500 tỷ đồng còn lại được huy động từ doanh nghiệp và đóng góp tự nguyện của cộng đồng, người dân bằng kinh phí, hiến đất, ngày công lao động và các hình thức khác.
Theo UBND tỉnh Lạng Sơn, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao làm cơ quan chủ trì, tham mưu thực hiện Chương trình; phối hợp xác định mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ từng năm và cả giai đoạn, đồng thời xây dựng phương án phân bổ nguồn vốn, kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện.
Sở Dân tộc và Tôn giáo chủ trì hợp phần triển khai các nội dung đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tổng hợp, đề xuất kế hoạch và phương án phân bổ vốn cho hợp phần này. Tại cơ sở, UBND các xã, phường chủ động xác định nhiệm vụ, xây dựng lộ trình thực hiện phù hợp với điều kiện từng địa bàn; lập kế hoạch vốn hằng năm, trung hạn, đồng thời lồng ghép và huy động thêm các nguồn lực để thực hiện Chương trình.