Nâng cao giá trị gia tăng cho ngành sầu riêng

Nâng cao giá trị gia tăng cho ngành sầu riêng
Nâng cao giá trị gia tăng cho ngành sầu riêng
| Rau quả xuất khẩu vượt 7,8 tỷ USD, sầu riêng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng Sầu riêng lập kỷ lục mới, dẫn đầu xuất khẩu nông sản Sầu riêng tăng tốc xuất khẩu nhờ siết chặt truy xuất nguồn gốc toàn diện |
| Hiện các tỉnh thành trồng sầu riêng đang tích cực triển khai nhiều giải pháp nâng cao chất lượng. Ảnh: BKH |
Hoạt động tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng vẫn còn nhiều khó khăn do phụ thuộc vào một số thị trường, yêu cầu ngày càng cao về kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc, chi phí logistics lớn và năng lực bảo quản, chế biến sâu còn hạn chế.
Chính vì vậy, cần gia tăng sản lượng tiêu thụ, hiệu quả giá trị gia tăng cho sầu riêng niên vụ 2026; mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống và phát triển các thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan…
Đồng thời, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm đông lạnh, chế biến sâu, phát triển thị trường nội địa và xây dựng thương hiệu "Sầu riêng Đắk Lắk" gắn với chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Sở Công Thương đã và đang phối hợp rà soát sản lượng, vùng trồng, cơ sở đóng gói đủ điều kiện xuất khẩu; tăng cường kết nối với hệ thống siêu thị, chợ đầu mối, doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp chế biến nhằm mở rộng kênh tiêu thụ…
Hiện nhiều tỉnh thành có diện tích trồng sầu riêng cũng đang tích cực triển khai nhiều giải pháp nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng cho trái sầu riêng xuất khẩu thay vì chỉ chú trọng gia tăng diện tích, sản lượng như trước kia để cùng đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của mặt hàng trái cây này
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 7 tháng năm 2026 ghi nhận bức tranh tích cực của ngành khi kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 7, xuất khẩu ước đạt 6,67 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ, cho thấy đà phục hồi tiếp tục được củng cố.
Trong đó, nông sản tiếp tục đóng góp lớn nhất với gần 22,2 tỷ USD. Chỉ tính riêng trong tháng 7, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đã đạt khoảng 600 - 700 triệu USD, qua đó, đưa xuất khẩu 7 tháng lên khoảng 1,8 tỷ USD, tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm 2025. Dự báo, từ tháng 8 đến tháng 10, mỗi tháng, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng có thể đạt gần 1 tỷ USD. Như vậy, đến hết năm nay, xuất khẩu sầu riêng hoàn toàn có thể vượt mốc 4 tỷ USD.
Ông Trần Ngọc Liêm, Giám đốc VCCI-HCM cho biết, trong những năm gần đây, sầu riêng đã trở thành một trong những câu chuyện thành công nổi bật nhất của nông nghiệp Việt Nam. Từ một loại cây ăn trái mang tính địa phương, sầu riêng đã vươn lên trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, có đóng góp lớn nhất trong nhóm hàng rau quả của Việt Nam.
Tuy nhiên, sự bùng nổ nhanh chóng về diện tích canh tác trong thời gian ngắn đã khiến nguồn cung tăng nhanh, có thời điểm vượt quá khả năng hấp thụ ổn định của thị trường, kéo theo áp lực giảm giá sâu tại nhiều địa phương. Đáng chú ý hơn, dù tổng sản lượng cung ứng ra thị trường là rất lớn, nhưng lượng hàng đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và quy cách theo đúng yêu cầu của thị trường nhập khẩu, đặc biệt là Trung Quốc, vẫn còn thiếu hụt đáng kể. Đây chính là nguyên nhân của tình trạng thông quan chậm, chi phí kiểm nghiệm tăng cao và rủi ro cảnh báo vi phạm mà ngành hàng đã trải qua trong giai đoạn vừa qua.
Bên cạnh đó, cạnh tranh trên thị trường sầu riêng khu vực cũng ngày càng gay gắt hơn, khi Thái Lan vẫn là đối thủ có thương hiệu và chuỗi phân phối lâu năm, trong khi Campuchia, Lào, Malaysia, Philippines và Indonesia cũng đang từng bước gia nhập hoặc mở rộng thị phần tại Trung Quốc. Vì vậy, việc chuyển từ mô hình cạnh tranh về sản lượng và giá cả sang cạnh tranh về chất lượng, tiêu chuẩn và thương hiệu không còn là một lựa chọn, mà là một yêu cầu tất yếu để ngành sầu riêng Việt Nam phát triển bền vững.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, hiện nay cạnh tranh trên thị trường quốc tế đã thay đổi theo hướng ưu tiên chất lượng thay vì số lượng. Các nước nhập khẩu hiện lựa chọn những quốc gia có hệ thống kiểm soát chất lượng hiệu quả.
Để giải quyết bài toán này, cần triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật như sử dụng than sinh học (biochar) kết hợp vật liệu hữu cơ giàu mùn nhằm hạn chế khả năng hấp thu kim loại nặng của cây; bón vôi kết hợp phân hữu cơ hoai mục để cải thiện chất lượng đất; đồng thời thực hiện chiến lược “3 không”, gồm không để dư lượng kim loại nặng và hóa chất vượt ngưỡng cho phép, không để sâu bệnh bùng phát do lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và không duy trì phương thức sản xuất manh mún, hướng tới phát triển chuỗi liên kết bền vững.
Bên cạnh giải pháp kỹ thuật, ngành sầu riêng cần tái cấu trúc chuỗi giá trị theo hướng nâng cao vai trò của liên kết “4 nhà”. Trong đó, Nhà nước cần quy hoạch vùng trồng phù hợp, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm các rào cản kỹ thuật từ thị trường nhập khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu nhằm giảm phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.
Nhà khoa học cần đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao các quy trình canh tác sinh học, công nghệ bảo quản và chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào kho lạnh, chế biến, logistics và tăng cường liên kết với vùng nguyên liệu, chia sẻ lợi ích và rủi ro với người sản xuất. Đối với người nông dân, việc thay đổi tư duy từ sản xuất theo sản lượng sang sản xuất theo tiêu chuẩn, tuân thủ quy trình kỹ thuật và tham gia chuỗi liên kết sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của ngành hàng trong giai đoạn tới.
“Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu ngày càng coi trọng chất lượng, an toàn thực phẩm và tính bền vững, kiểm soát chất lượng không chỉ là yêu cầu để vượt qua các rào cản kỹ thuật mà còn là chìa khóa giúp sầu riêng Việt nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường và phát triển bền vững trong dài hạn”, ông Nguyên nhấn mạnh.