Nghịch lý xuất khẩu nông sản tăng, lợi nhuận người sản xuất vẫn thấp
Nghịch lý xuất khẩu nông sản tăng, lợi nhuận người sản xuất vẫn thấp
Doanh nghiệp# Nghịch lý xuất khẩu nông sản tăng, lợi nhuận người sản xuất vẫn thấp
Dù xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 10 tháng năm 2026 đạt gần 63 tỷ USD, nhưng những điểm nghẽn về bảo quản, chế biến và logistics vẫn khiến giá trị gia tăng của nông sản chưa tương xứng với tiềm năng.
Trong 10 tháng năm 2026, phần lớn các chỉ tiêu của ngành nông nghiệp đều đạt yêu cầu. Tăng trưởng quý IV dự kiến đạt khoảng 4,3-4,4%, cả năm ước đạt mục tiêu 4%.
Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 62,891 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ, bằng 84,7% mục tiêu kế hoạch năm 2026. Kim ngạch nhập khẩu đạt 44,287 tỷ USD, tăng 9,2%. Toàn ngành xuất siêu khoảng 18,6 tỷ USD, tăng 4,7%.
Trong đó, lâm sản đóng góp mức xuất siêu lớn nhất, đạt 13,01 tỷ USD, tăng 5,2%; thủy sản xuất siêu 7,73 tỷ USD, tăng 17%. Ngược lại, xuất siêu nông sản đạt 4,52 tỷ USD, giảm 30,8%; nhập siêu sản phẩm chăn nuôi lên 3,81 tỷ USD, tăng 21,5%.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả tiêu thụ. Theo đó, giá xuất khẩu phục hồi ở một số mặt hàng nhưng chưa chuyển hóa đồng đều thành giá thu mua tại vùng nguyên liệu. Trong khi đó, nông dân và các hợp tác xã nhỏ còn thiếu vốn lưu động, kho chứa, kho sấy và khả năng chờ thời điểm bán có lợi, nên thường phải bán nhanh khi vào chính vụ.
Một điểm nghẽn khác là liên kết giữa sản xuất, thu mua, chế biến và phân phối còn yếu, sản xuất phân tán, hợp đồng bao tiêu chưa bền vững, thông tin đơn hàng và kế hoạch thu hoạch chưa được chia sẻ kịp thời. Công suất vận hành thực tế của các cơ sở chế biến chỉ đạt khoảng 60-80% công suất thiết kế, hệ thống kho lạnh, trung tâm logistics dùng chung và công nghệ chế biến sâu còn thiếu.
Trên thực tế, hạn chế về năng lực chế biến sâu, bảo quản và liên kết chuỗi sản xuất vẫn luôn tồn tại lâu nay khiến doanh nghiệp khó dự trữ, điều tiết nguồn hàng và người sản xuất phải bán nhanh khi vào chính vụ, làm giảm lợi nhuận của người sản xuất.
Theo ông Vũ Huy Phúc, Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, kết quả khảo sát chuỗi giá trị từng mặt hàng cho thấy các mức tổn thất không nhỏ, như chuỗi tôm được ghi nhận ở mức 8,8%, vải thiều 13,6%, cà-phê 9,2%, lúa gạo 13,9%,... Với rau quả, thời gian thu hoạch, sơ chế, điều kiện đóng gói và vận chuyển ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ hư hỏng.
Mặt khác, một số sản phẩm có thời gian bảo quản ngắn trong khi cơ sở sơ chế, kho mát và phương tiện vận chuyển lạnh chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là vào thời điểm thu hoạch rộ khiến tỷ lệ thất thoát ở mức cao. Với ngành hàng lúa gạo, tổn thất xuất hiện qua nhiều công đoạn, từ thu hoạch, vận chuyển, phơi sấy đến xay xát và lưu kho. Các yếu tố như thời tiết bất lợi, thu hoạch không đúng độ chín, độ ẩm hạt chưa phù hợp, thiết bị sấy và xay xát hạn chế hoặc điều kiện bảo quản không bảo đảm đều có thể làm giảm tỷ lệ thu hồi và chất lượng gạo.
Do đó, ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, nhằm giảm thất thoát trong lĩnh vực nông nghiệp, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, nâng tỷ lệ cơ giới hóa, chế biến sâu.
Đồng thời thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, phát triển hệ thống logistics nông nghiệp, nâng cao năng lực lưu thông hàng hóa. Đồng thời ứng dụng khoa học-công nghệ xử lý hiệu quả phụ phẩm. Đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm lãng phí tài nguyên và tăng sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường.
Bài liên quan
Đọc tiếp
Nổi bật
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.