🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Nguồn nguyên liệu thiếu ổn định, nông sản khó nâng giá trị

Cập nhật: Báo Nông nghiệp và Môi trường
Nguồn nguyên liệu thiếu ổn định, nông sản khó nâng giá trị

Nguồn nguyên liệu thiếu ổn định, nông sản khó nâng giá trị

Giá trị xuất siêu nông sản giảm hơn 60%

Theo Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, trong nửa đầu năm nay, bức tranh tổng thể ghi nhận điểm sáng khi xuất siêu toàn ngành đạt 9,2 tỷ USD. Trong đó, nhóm lâm sản đóng góp mức xuất siêu 7,36 tỷ USD, thủy sản đạt 4,13 tỷ USD.

Tuy nhiên, nhóm nông sản chỉ còn duy trì mức xuất siêu 1,51 tỷ USD, giảm đến 60,6% so với cùng kỳ năm 2025 do giá xuất khẩu một số mặt hàng chiến lược như cà phê, gạo và cao su sụt giảm sâu, cộng hưởng với việc chi phí nhập khẩu nguyên liệu đầu vào tăng cao.

Nghịch lý nằm ở chỗ, trong nước có vùng nguyên liệu rộng lớn nhưng các nhà máy vẫn lo thiếu đầu vào, khiến nhập khẩu ở quy mô toàn ngành gia tăng. Việc xuất khẩu nông sản tăng nhưng nguồn nguyên liệu trong nước chưa ổn định, kết hợp chi phí đầu vào cao đang gây sức ép lớn lên sức cạnh tranh.

Điển hình là ngành sắn. Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn lại thông tin từ các đơn vị kinh doanh sắn lát, dự báo nguồn nguyên liệu sắn củ tươi trong nước sẽ thiếu hụt khi bước vào vụ sản xuất 2026-2027. Trong khi đó, giá tinh bột sắn duy trì ở mức cao đã khiến các doanh nghiệp sắn lát khô phải cạnh tranh gay gắt để giành nguồn nguyên liệu củ sắn tươi.

Tính riêng nửa đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 841 nghìn tấn sắn nguyên liệu, thu về 196,7 triệu USD. Tuy nhiên, xuất khẩu các sản phẩm từ sắn lại giảm 27,1% về lượng và giảm 8,5% về giá trị. Vấn đề không chỉ nằm ở giá sắn, mà các nhà máy muốn vận hành ổn định bắt buộc phải có nguồn cung đủ lớn, chất lượng đồng đều và dự báo được. Khi vùng nguyên liệu phân tán, liên kết ngắn, doanh nghiệp phải chạy đôn chạy đáo gom hàng khi thiếu, làm chi phí tăng và thu hẹp dư địa đầu tư chế biến sâu. Điểm nghẽn thực sự nằm ở khả năng biến vùng trồng thành nguồn cung công nghiệp.

Tương tự, nguyên liệu nhập khẩu hiện đang chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá thành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Theo Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, lúa mì gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhập khẩu, còn ngô và đậu tương nội địa chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu chế biến.

Sự phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập khiến ngành chăn nuôi cực kỳ dễ bị tác động khi giá nông sản hoặc chi phí logistics toàn cầu biến động. Đơn cử, từ cuối tháng 2, xung đột ở Trung Đông leo thang khiến nhiều doanh nghiệp lo ngại giá hàng hóa và cước vận chuyển tăng mạnh trở lại, buộc họ phải đẩy mạnh nhập khẩu để dự trữ nguyên liệu cho các tháng cuối năm.

Áp lực chi phí cũng đang hiện rõ ở ngành thủy sản. Ông Đỗ Ngọc Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (Vasep), cho biết nhiều khách hàng đã mua hàng Việt Nam trong nhiều năm và tin tưởng hệ thống quản lý chất lượng của nước ta. Tuy nhiên, nếu giá nguyên liệu trong nước quá cao, doanh nghiệp sẽ rất khó cạnh tranh về giá.

Phát triển vùng nguyên liệu gắn với truy xuất nguồn gốc

Bài toán nguyên liệu không chỉ là câu chuyện thiếu hay đủ, mà nguyên liệu còn phải có chất lượng ổn định, giá thành hợp lý và nguồn cung có thể dự báo. Nếu không, mọi lợi thế về thị trường và chất lượng cũng khó chuyển thành lợi thế cạnh tranh.

Phó chủ tịch Thường trực Hội Chăn nuôi Việt Nam Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị các địa phương cần quy hoạch bài bản vùng trồng ngô, đậu tương và cây nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn. Vùng nguyên liệu cần gắn chặt với nhu cầu của nhà máy, hợp đồng tiêu thụ và tiêu chuẩn chất lượng, tránh mở rộng diện tích tự phát.

Cùng với việc phát triển vùng nguyên liệu, Nhà nước cần tiếp tục có các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đổi mới công nghệ và khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu công thức thức ăn chăn nuôi tối ưu, tiết kiệm chi phí nhưng vẫn bảo đảm dinh dưỡng. Trước nguy cơ gián đoạn từ các thị trường truyền thống, Việt Nam cũng cần mở rộng nhập khẩu từ Nam Mỹ, Ấn Độ, Đông Âu và một số quốc gia châu Á. Việc xây dựng mạng lưới nhà cung cấp đa dạng sẽ giúp giảm rủi ro tập trung, tăng khả năng đàm phán và tạo dư địa xoay xở. Đồng thời, hệ thống dự trữ nguyên liệu chiến lược cần được nghiên cứu nhằm ứng phó với những đợt gián đoạn ngắn hạn.

Các chuyên gia nhận định, giải pháp cốt lõi không phải là mở rộng diện tích bằng mọi giá, mà phải tổ chức lại vùng nguyên liệu theo nhu cầu chế biến. Doanh nghiệp phải tham gia từ đầu, xác định thị trường cần gì, tiêu chuẩn nguyên liệu ra sao, thời điểm nào cần hàng. Từ đó, các HTX sẽ tổ chức nông dân sản xuất theo quy trình thống nhất. Liên kết phải đủ dài để người trồng có cơ sở đầu tư, và doanh nghiệp có thể dự báo nguồn cung. Mã số vùng trồng, hồ sơ sản xuất và truy xuất nguồn gốc cần được xem là công cụ quản trị dữ liệu quan trọng để doanh nghiệp biết vùng nào đang sản xuất, sản lượng dự kiến và thời điểm thu hoạch.

Quan trọng hơn, công đoạn chế biến sâu phải được tính ngay từ khi xây dựng vùng nguyên liệu. Không phải mọi nguyên liệu nhập khẩu đều bất lợi, điểm đáng lo là khi nguyên liệu Việt có lợi thế nhưng chưa được tổ chức tốt, khiến Việt Nam phải xuất khẩu thô giá trị thấp rồi nhập lại đầu vào chế biến với giá cao.

Mặt khác, các thị trường trọng điểm như EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc liên tục đưa ra các quy định khắt khe về truy xuất nguồn gốc. Điển hình là Quy định chống mất rừng và suy thoái rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Từ ngày 30/12/2026, các sản phẩm chủ lực như cà phê, cao su và gỗ khi xuất khẩu vào EU phải chứng minh không liên quan đến việc phá rừng và phải truy xuất đến tận từng lô đất sản xuất.

Để ứng phó, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chính thức vận hành, thu hút hơn 18.500 sản phẩm từ 170 doanh nghiệp tại 24 tỉnh thành tham gia. Việc liên thông dữ liệu đang giúp các cơ quan quản lý theo dõi điều kiện sản xuất theo thời gian thực. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là đặc thù sản xuất của Việt Nam vẫn dựa trên hàng triệu nông hộ nhỏ lẻ. Với 1,1 triệu hộ ngành gỗ, 700.000 hộ cà phê và 264.000 hộ cao su canh tác trên các thửa đất phân tán, việc số hóa tọa độ từng lô đất trở thành một khối lượng công việc khổng lồ.