🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Nhóm ngành nông nghiệp - môi trường vẫn khó hút người học

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Nhóm ngành nông nghiệp - môi trường vẫn khó hút người học

Nhu cầu nhân lực nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên, môi trường ngày càng lớn, nhưng nhiều ngành điểm chuẩn chưa cao, đặt ra nỗi lo chất lượng nhân lực của ngành trong tương lai.

Mùa tuyển sinh năm 2026 cho thấy, trong khi các ngành gắn với công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo hay kinh tế số ngày càng hấp dẫn, nhiều lĩnh vực thiết yếu của nông nghiệp, tài nguyên và môi trường vẫn khó thu hút người học, nhất là học sinh khá, giỏi.

Sự phân hóa thể hiện khá rõ qua điểm chuẩn. Tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, năm 2026, các nhóm ngành: Nông nghiệp và cảnh quan, Chăn nuôi thú y - Thủy sản và Khoa học môi trường có điểm chuẩn 16 theo phương thức xét kết quả thi tốt nghiệp THPT; trong khi Sư phạm công nghệ lấy 24,41 điểm, Kỹ thuật điện, Điện tử và Tự động hóa 22 điểm, Du lịch 21,3 điểm và Logistics 21 điểm.

Tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, nhiều ngành về khí hậu, thủy văn, môi trường, địa chất, trắc địa, tài nguyên nước và biển có điểm chuẩn 15, trong khi Logistics là 23,75 điểm, Marketing 23 điểm, Quản trị kinh doanh 22,85 điểm.

Nghịch lý không nằm ở nhu cầu nhân lực

Theo NGND.GS.TS. Trần Văn Chứ - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Lâm nghiệp, việc nhiều ngành có điểm đầu vào thấp trong khi nông nghiệp đang chuyển mạnh sang công nghệ cao, chuyển đổi số, kinh tế xanh là “nghịch lý của tín hiệu, không phải nghịch lý của nhu cầu”.

Nhu cầu nhân lực chiến lược là có thật, nhưng chưa trở thành một “hợp đồng nghề nghiệp” đủ cụ thể, hấp dẫn và đáng tin cậy đối với người học. Theo ông, thực trạng này bắt nguồn từ 4 “độ trễ”: nhận thức, thị trường lao động, chương trình đào tạo và chính sách.

Trước hết là độ trễ về nhận thức. Nông nghiệp hiện đại đã gắn với dữ liệu lớn, cảm biến, tự động hóa, công nghệ sinh học, GIS, viễn thám, truy xuất nguồn gốc, quản trị chuỗi cung ứng, thị trường carbon... nhưng không ít người vẫn hình dung đây là lĩnh vực lao động thủ công, vất vả ngoài đồng ruộng, trên rừng hoặc xa đô thị.

Nhu cầu nhân lực dù có thật nhưng còn phân tán, tín hiệu tuyển dụng chưa đủ mạnh. Những vị trí mới như kỹ sư dữ liệu trang trại, chuyên viên ESG, quản lý chuỗi lạnh, chuyên gia GIS - viễn thám, kiểm kê phát thải hay quản lý tín chỉ carbon khiến thí sinh dễ chọn công nghệ thông tin, logistics hoặc kinh doanh thay vì các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên.

Nguyên nhân khác nằm ở chương trình đào tạo. Theo GS. Trần Văn Chứ, nhiều trường nói đến nông nghiệp thông minh, chuyển đổi số, kinh tế xanh nhưng chưa chứng minh bằng phòng thí nghiệm, dữ liệu thực tế, học kỳ doanh nghiệp, dự án hiện trường và những vị trí việc làm cụ thể. Nếu chỉ đổi tên ngành hoặc bổ sung một số học phần công nghệ mà trải nghiệm học tập không thay đổi, niềm tin của người học khó được cải thiện.

Số liệu nhập học cho thấy vấn đề không dừng ở điểm chuẩn. GS. Trần Văn Chứ dẫn số liệu năm 2025, Trường Đại học Lâm nghiệp có ngành Lâm sinh với 65 chỉ tiêu tuyển sinh nhưng chỉ có 21 người nhập học, tương đương khoảng 32%; thậm chí ngành Chăn nuôi có 30 chỉ tiêu nhưng không có người nhập học. Trong khi đó, Logistics có 185/190 sinh viên nhập học, tương đương hơn 97%; Kế toán có 204 người nhập học so với 200 chỉ tiêu. Ngay trong một trường, khả năng lấp đầy cũng có sự thay đổi mạnh khi người học nhìn thấy nghề nghiệp một cách rõ ràng hơn.

Theo GS. Trần Văn Chứ, năm 2023, trong gần 547.000 người vào đại học, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm khoảng 0,86%, tương đương khoảng 4.700 sinh viên. Đây là mất cân đối cơ cấu, không còn là khó khăn riêng của một trường hay một mùa tuyển sinh.

Độ trễ chính sách cũng góp phần tạo nên khoảng cách này. Xã hội cần nhân lực cho an ninh lương thực, đất đai, rừng, nước, phòng chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu, nhưng học bổng, đặt hàng đào tạo, hỗ trợ thực tập, lương khởi điểm và phụ cấp nghề chưa phản ánh đầy đủ tính thiết yếu của những công việc đó.

PGS.TS Nguyễn Công Tiệp - Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cũng cho rằng cần nhìn nhận vấn đề khách quan, toàn diện. Điểm tuyển đầu vào là chỉ báo quan trọng nhưng không phải thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng một ngành đào tạo hay nguồn nhân lực sau này.

Theo ông Tiệp, nông nghiệp Việt Nam đang chuyển nhanh từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp số, nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất theo chuỗi giá trị. Vì vậy, người học các ngành này trong tương lai không chỉ làm việc tại trang trại hay trực tiếp sản xuất.

Không gian việc làm đã mở rộng sang doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp nông nghiệp, tập đoàn thực phẩm, logistics, thương mại nông sản, quản lý chất lượng, thú y, thủy sản, thiết kế và quản lý cảnh quan, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Đây là những thị trường việc làm có dư địa rất lớn.

Điểm thấp chưa phải “bản án” chất lượng

Khi những ngành thiết yếu khó thu hút học sinh khá, giỏi, lo ngại về chất lượng nguồn nhân lực tương lai là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, theo GS. Trần Văn Chứ, cần nhìn nhận thận trọng mối quan hệ giữa điểm đầu vào và chất lượng đầu ra.

“Điểm đầu vào là điều kiện ban đầu, không phải định mệnh, cũng không vô nghĩa”, ông Chứ nhận định. Theo đó, có cơ sở để lo ngại, nhưng sẽ sai nếu suy luận một cách cơ học rằng mức điểm 15 - 16 tất yếu tạo ra lực lượng lao động chất lượng thấp.

Điểm chuẩn là mức điểm của thí sinh cuối cùng trúng tuyển, không phải điểm trung bình của toàn bộ người nhập học. Mức điểm này còn chịu tác động bởi chỉ tiêu, nguyện vọng, phương thức xét tuyển, ưu tiên, vị trí và thương hiệu của trường. Vì thế, một ngành ít người đăng ký có thể lấy 15 điểm dù chương trình tốt; ngược lại, ngành điểm chuẩn cao chưa chắc chất lượng đầu ra tương xứng.

Dù vậy, việc nhiều ngành đứng ở mức 15 - 16 điểm vẫn cảnh báo về độ dày của nguồn tuyển. Đáng lo hơn là số người thực sự nhập học. Năm 2025, ngành Khoa học cây trồng của Trường Đại học Lâm nghiệp chỉ có 9 sinh viên nhập học trên 30 chỉ tiêu. Nếu quy mô lớp quá nhỏ kéo dài, hệ quả có thể ảnh hưởng tới đội ngũ, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành và môi trường học thuật.

Theo GS. Trần Văn Chứ, đầu vào thấp kéo dài trước hết có thể dẫn tới sự không đồng đều về nền tảng toán học, khoa học tự nhiên, ngoại ngữ và dữ liệu, trong khi đây là những năng lực cốt lõi của nông nghiệp chính xác, GIS, viễn thám, mô hình khí hậu, công nghệ sinh học và quản lý tài nguyên.

Đáng lưu ý hơn, áp lực giữ quy mô và nguồn thu có thể dẫn tới việc nới lỏng đánh giá, giảm thực hành hoặc mức độ sàng lọc. Theo GS. Trần Văn Chứ, chất lượng không giảm vì tuyển sinh ở mức 15 - 16 điểm, mà giảm nếu cơ sở đào tạo hạ chuẩn để phù hợp với mặt bằng đầu vào.

Việc thiếu sinh viên khá, giỏi kéo dài cũng có thể làm giảm môi trường cạnh tranh, nghiên cứu và nguồn kế cận sau đại học đối với các ngành như lâm nghiệp, khí tượng, thủy văn và khoa học đất.

Như vậy, khoảng trống nhân lực không chỉ thể hiện ở số người đăng ký hay điểm chuẩn, mà còn ở sức hút nghề nghiệp với người trẻ. Những giải pháp từ tuyển sinh, đào tạo đến chính sách thu hút nhân lực sẽ là vấn đề cần tiếp tục làm rõ.