🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Những cánh 'rừng sinh kế' nơi địa đầu Tổ quốc

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Những cánh 'rừng sinh kế' nơi địa đầu Tổ quốc

Hơn 100 km từ trung tâm tỉnh Cà Mau về Đất Mũi, những cánh rừng ngập mặn nối nhau xanh thẳm. Dưới tán đước, mắm, người dân kiếm sống bằng tôm, cua và thủy sản.

Từ trung tâm tỉnh Cà Mau về xã Đất Mũi là hành trình hơn 100 km. Con đường càng đi xa, những mái nhà càng thưa, những dòng kênh len giữa rừng ngập mặn xuất hiện dày hơn. Đước, mắm bám rễ xuống nền đất bùn, thân cây vươn lên giữa nắng, gió và những con nước ngày đêm lên xuống. Có những đoạn, nhìn qua cửa kính ô tô chỉ thấy một màu xanh trải dài đến tận chân trời.

Nhưng nếu chỉ nhìn những cánh rừng ấy như một diện tích cây xanh được trồng, được giao khoán và bảo vệ thì chưa đủ. Bởi phía sau màu xanh của rừng là những vuông tôm, vuông cua; dưới những tán đước, mắm là tôm, cua, cá, sò, ốc.. và nhiều loài thủy sinh.

Với người dân Đất Mũi, rừng không tách biệt khỏi cuộc sống. Rừng nằm ngay trong sinh kế của họ. Rừng còn thì vuông tôm còn, vuông tôm còn thì người dân còn kế sinh nhai.

Vuông tôm và những tán rừng sinh kế

Theo con nước vào vuông nuôi hơn 2 ha ở ấp Mũi, xã Đất Mũi, mục tiêu của ông Nguyễn Văn Bạch không phải là một vụ tôm thật lớn. Ông Bạch chọn cách làm ăn chậm hơn, dựa vào tự nhiên nhiều hơn và quan trọng nhất là giữ được rừng.

Trên diện tích đất của gia đình, ông Bạch đắp bờ bao, cải tạo vuông, giữ lại và trồng bổ sung đước, mắm, duy trì tỷ lệ che phủ rừng khoảng 60%. Phần diện tích mặt nước được sử dụng để nuôi tôm sú, cua với số lượng phù hợp, đồng thời tận dụng nguồn thủy sản tự nhiên theo con nước. Khi nước lớn, ông cho nước vào vuông. Cùng dòng nước ấy, tôm, cá tự nhiên cũng theo vào, tạo thêm sự đa dạng cho vuông nuôi.

Đến thời điểm thích hợp, ông Bạch không thu hoạch một lần mà thu tỉa. Những chiếc lú đuôi chuột được đặt xuống vuông, tôm, cua, cá đạt kích cỡ được bắt lên bán. Có ngày nhiều, ngày ít, nhưng mỗi con nước thuận lợi lại đem về một khoản thu cho gia đình.

Bình quân mỗi tháng, ông có thu nhập từ 10 triệu đồng trở lên. So với nuôi tôm công nghiệp, mức thu nhập này không đáng kể. Nhưng ông Bạch không lấy năng suất cao nhất làm mục tiêu. Điều ông cần là sự ổn định.

Bởi nuôi tôm công nghiệp có thể cho lợi nhuận cao khi mọi thứ thuận lợi, nhưng cũng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, chi phí thức ăn, điện, xử lý môi trường và luôn tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh. Với mô hình tôm – rừng, chi phí thấp hơn, tôm, cua được nuôi với mật độ phù hợp, nguồn nước trao đổi theo con nước, thủy sản tự nhiên được tận dụng.

Ở đó, rừng không phải phần diện tích bị bỏ lại trong vuông nuôi. Rừng chính là một phần của hệ thống sản xuất. Tán rừng giúp che chắn, góp phần ổn định nhiệt độ. Bộ rễ đước, mắm tạo nơi trú ngụ cho tôm, cua và nhiều loài thủy sản. Lá cây, sinh vật và vật chất hữu cơ dưới tán rừng góp phần hình thành nguồn thức ăn tự nhiên.

Một gốc đước vì thế không chỉ là một cái cây. Nó là nơi tôm, cua, sò, ốc…trú ẩn, là một mắt xích của hệ sinh thái và cũng là một phần của thu nhập gia đình.

Câu chuyện ở vuông tôm của ông Bạch cho thấy một vòng tròn sinh kế rất rõ: người dân cần rừng để nuôi thủy sản; thủy sản mang lại thu nhập; có thu nhập, người dân có động lực giữ rừng; rừng được giữ thì môi trường lại tiếp tục nuôi dưỡng thủy sản. Người dân giữ rừng không chỉ vì trách nhiệm, mà còn bởi họ đang mưu sinh nhờ những tán rừng.

Rừng nuôi người, người giữ rừng

Câu chuyện của ông Bạch không phải trường hợp riêng lẻ. Ở Đất Mũi, nhiều hộ dân tận dụng diện tích rừng sẵn có, trồng thêm đước, mắm, dừa nước để hình thành những vuông nuôi thủy sản dưới tán rừng. Đây là phương thức sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng ven biển, nơi sản xuất thủy sản ngày càng chịu nhiều tác động từ môi trường, thời tiết và dịch bệnh.

Ông Trần Thanh Mộng, hội viên nông dân ấp Nguyễn Quyền, xã Đất Mũi, nhận định: “Mô hình nuôi tôm - rừng là mô hình phát triển bền vững, môi trường ao nuôi ổn định, màu nước ít thay đổi, độ pH ổn định và đặc biệt là khả năng hạn chế dịch bệnh trong ao nuôi tôm, tôm nuôi đạt tỉ lệ sống cao, tôm mau lớn và sạch bệnh. Đây là mô hình, để người dân chúng ứng dụng đưa vào trong sản xuất nhằm mang lại hiệu quả bền vững”.

Với người nông dân, những khái niệm như kinh tế xanh, carbon hay thích ứng biến đổi khí hậu có thể còn xa. Điều họ nhìn thấy trước mắt là nước trong vuông ổn định hơn, tôm ít bệnh hơn, chi phí thấp hơn và nguồn thu đều đặn hơn. Nhưng chính những điều giản dị ấy lại tạo nên giá trị lớn hơn đối với môi trường.

Theo ông Phan Xa Lăng, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, kiêm Chủ tịch Hội Nông dân xã Đất Mũi, toàn xã hiện có trên 2.500 ha nuôi các loại thủy sản với loại hình nuôi tôm, cua dưới tán rừng. Ông cho rằng mô hình vừa nâng cao đời sống người dân, vừa bảo vệ, phát triển rừng và hạn chế tác động của biến đổi khí hậu như triều cường, nước biển dâng.

Những cánh rừng ngập mặn ở Đất Mũi vì thế đang làm nhiều việc cùng lúc. Rừng tạo môi trường sống cho thủy sản, giữ đất, giảm tác động của sóng, gió, góp phần bảo vệ bờ biển. Rừng cũng hấp thụ và lưu giữ carbon, góp phần ứng phó biến đổi khí hậu.

Nhưng có một giá trị ít khi được nhìn thấy trên những báo cáo về diện tích rừng: giá trị của rừng đối với bữa cơm của từng gia đình.

Theo kết quả rà soát, xã Đất Mũi hiện có trên 8.000 ha nuôi tôm – rừng kết hợp với hơn 2.000 hộ. Năng suất tôm sú bình quân khoảng 315 kg/ha/năm, sản lượng ước khoảng 1.350 tấn; các loại tôm khác có năng suất bình quân khoảng 90 kg/ha/năm, sản lượng ước khoảng 890 tấn. Đằng sau những con số ấy là hàng nghìn hộ dân đang sống cùng rừng.

Họ không chỉ đứng bên ngoài để bảo vệ rừng. Họ bước vào rừng, làm vuông, đặt lú, bắt cua, bắt cá và thu hoạch tôm. Sinh kế đan xen với hệ sinh thái tự nhiên.

Đó cũng là lý do nếu muốn bảo vệ rừng lâu dài, không thể chỉ đặt câu hỏi trồng thêm bao nhiêu cây, bảo vệ bao nhiêu hecta. Câu hỏi quan trọng hơn là người dân sống trong và quanh rừng sẽ sống bằng gì.

Nếu rừng chỉ là một yêu cầu phải bảo vệ, đó có thể là trách nhiệm. Nhưng khi rừng trở thành nền tảng của sinh kế, mỗi gốc cây được giữ lại đều mang theo một lợi ích thiết thực. Rừng nuôi người, người giữ rừng.

Sinh kế hôm nay, “lá chắn xanh” ngày mai

Đất Mũi nằm ở nơi đất liền gặp biển. Người dân nơi đây hiểu rõ hơn ai hết những thay đổi của thời tiết và môi trường. Triều cường, nước biển dâng, sạt lở, những đợt thời tiết bất lợi và sự biến động của môi trường nuôi ngày càng tác động trực tiếp đến sản xuất.

Trong bối cảnh ấy, mô hình tôm - rừng không chỉ là một phương thức nuôi thủy sản mà còn là cách người dân thích ứng với điều kiện tự nhiên đang thay đổi.

Ông Nguyễn Văn Ngọc Hiên, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững, kiêm Quản lý Dự án VM077 thông tin: "Việc chú trọng triển khai các chương trình hỗ trợ cộng đồng, nâng cao sinh kế cho các hộ dân sinh sống trên địa bàn, nhằm góp phần hài hòa giữa mục tiêu bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế – xã hội địa phương”.

Cách tiếp cận này cho thấy bảo vệ rừng và phát triển sinh kế không phải hai mục tiêu đối lập. Một diện tích rừng khỏe mạnh giúp hệ sinh thái ổn định; hệ sinh thái ổn định giúp tôm, cua và các loài thủy sản có môi trường phát triển; thủy sản tạo thu nhập; thu nhập giúp người dân tiếp tục chăm sóc và bảo vệ rừng.