Nông dân miền Tây thấy lợi từ canh tác lúa phát thải thấp

Giảm giống, bớt phân bón, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật nhưng lợi nhuận vẫn tăng. Những mô hình lúa phát thải thấp đang thay đổi tư duy sản xuất của nông dân.
Gieo thưa, nông dân từng lo mất mùa
Khi nghe cán bộ kỹ thuật đề nghị giảm lượng giống gieo sạ, không ít nông dân ở vùng sản xuất lúa có đông đồng bào Khmer thuộc địa bàn tỉnh Trà Vinh trước đây đã tỏ ra hoài nghi. Bao năm quen với cách sạ dày, bà con khó tin rằng giảm giống mà ruộng lúa vẫn có thể đạt năng suất như mong đợi.
Nỗi lo ấy hoàn toàn dễ hiểu với nông dân miền Tây sống bằng nghề trồng lúa, mỗi vụ mùa họ đều đối mặt với cả “núi” chi phí đầu tư. Chỉ một thay đổi nhỏ trong quy trình sản xuất cũng có thể khiến họ đắn đo, lo lắng, nhất là khi chưa tận mắt thấy hiệu quả.
Ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao Tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp (Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam) kể rằng, để thuyết phục bà con tham gia mô hình, đơn vị triển khai đã phải thỏa thuận sẵn sàng bù đắp cho bà con nếu năng suất thấp hơn mức cam kết.
Sau vụ đầu tiên cho kết quả tích cực trên đồng ruộng, nông dân đã dần thay đổi suy nghĩ. Thực tế cho thấy những ruộng gieo thưa vẫn phát triển tốt, trong khi chi phí giống giảm rõ rệt, do vậy nhiều hộ ở khu vực lân cận bắt đầu chủ động làm theo mà không cần vận động nhiều như trước.
Theo ông Chinh, câu chuyện ấy đã phản ánh một trong những thay đổi quan trọng khi triển khai xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải phục vụ Đề án Phát triển bền vững 1 triệu hecta lúa vùng ĐBSCL (Đề án 1 triệu ha lúa): muốn chuyển đổi phương thức sản xuất, trước hết phải tạo được niềm tin với nông dân bằng lợi ích cụ thể.
Trong hai năm 2025 - 2026, Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao Tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp được giao triển khai Dự án xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải phục vụ Đề án 1 triệu ha lúa.
Sau hai năm, dự án triển khai tại ba HTX gồm: HTX Nông nghiệp Tân Thành (An Giang), HTX Dịch vụ nông nghiệp số 1 Mỹ Thọ (Đồng Tháp) và HTX Nông nghiệp Hưng Lợi (Cần Thơ) với tổng diện tích thực hiện 350 ha, gồm 200 ha năm 2025 và 150 ha năm 2026. Bên cạnh đó, diện tích nhân rộng đạt 800 ha. Tổng diện tích mô hình đã xây dựng đến nay đạt 1.150 ha, năng suất lúa dao động từ 7,5 - 8,5 tấn/ha.
Hiệu quả kinh tế được ghi nhận tăng khoảng 20 - 30% tại một số mô hình. Riêng mô hình canh tác lúa ST25 ở khu vực Đại Ngãi đạt mức tăng trên 30%, các mô hình sử dụng giống OM18 và OM5451 cải thiện khoảng 15 - 20% so với trước.
Kết quả này đến từ những điều chỉnh trong canh tác. Lượng giống gieo sạ giảm xuống khoảng 80kg/ha, thấp hơn tập quán cũ từ 40 - 50kg/ha. Số lần phun thuốc BVTV cũng giảm từ 2 - 3 lần mỗi vụ, lượng phân bón giảm khoảng 15 - 20%. Bên cạnh đó, nông dân được hướng dẫn tưới ngập - khô xen kẽ thay cho việc duy trì nước ngập liên tục trên đồng ruộng.
Cách quản lý nước này giúp sử dụng tài nguyên hợp lý hơn, đồng thời góp phần hạn chế phát sinh khí mê-tan trong điều kiện đất ngập nước kéo dài. Như vậy, hiệu quả của mô hình không đến từ việc tăng thêm vật tư để chạy theo năng suất mà từ cách sử dụng giống, phân bón, thuốc BVTV và nước tưới hợp lý hơn.
Rơm rạ thành nguồn lợi
Không chỉ thay đổi cách gieo sạ, các mô hình còn đặt ra yêu cầu xử lý rơm rạ sau thu hoạch theo hướng chuyển đổi xanh, tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động đến môi trường. Trước đây, việc đốt rơm rạ ngay trên đồng vẫn thường là thói quen của nhiều nông dân để nhanh chóng chuẩn bị cho vụ tiếp theo. Tuy nhiên, cách xử lý này vừa lãng phí nguồn phụ phẩm, vừa gây ô nhiễm không khí.
Theo ông Ngô Xuân Chinh, đến nay tại các mô hình, nông dân được hướng dẫn tận dụng rơm rạ theo ba hướng: thu gom làm thức ăn cho gia súc khi đáp ứng yêu cầu, sử dụng làm nguyên liệu trồng nấm hoặc xử lý thành phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho đất.
Trong mùa khô, rơm rạ có thể được thu gom ra khỏi đồng ruộng, còn mùa mưa sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý ngay tại ruộng - giải pháp được nghiên cứu, áp dụng nhằm thúc đẩy phân hủy chất hữu cơ. Tuy nhiên, xử lý rơm rạ không đơn giản là vùi toàn bộ xuống đất. Nếu rơm tươi chưa phân hủy hết mà ruộng bị ngập nước kéo dài, quá trình phân hủy trong môi trường thiếu oxy có thể tạo ra những chất bất lợi cho bộ rễ lúa, đồng thời làm phát sinh khí mê-tan.
Đây cũng là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm khi tham gia Đề án 1 triệu ha lúa. Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền cho biết, doanh nghiệp đang phối hợp với các đơn vị nghiên cứu để tìm kiếm giải pháp xử lý rơm rạ phù hợp với điều kiện sản xuất, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón.
“Đối với vùng sản xuất lúa thâm canh liên tục như ĐBSCL, sức khỏe đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu chỉ chú trọng năng suất trước mắt mà không quan tâm cải thiện độ phì nhiêu, hiệu quả sản xuất về lâu dài có thể bị ảnh hưởng. Bởi vậy, việc tận dụng rơm rạ, sử dụng phân bón hợp lý và quản lý nước cần thực hiện đồng bộ thay vì áp dụng từng giải pháp riêng lẻ”, ông Tâm nhấn mạnh.
Theo ông Tâm, giảm lượng phân bón chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi, điều quan trọng hơn là quản lý dinh dưỡng cân đối, bổ sung chất hữu cơ và duy trì sức khỏe đất để cây lúa có thể sinh trưởng tốt qua nhiều vụ. Do đó, rơm rạ không còn đơn thuần là thứ phải dọn bỏ sau thu hoạch mà trở thành tài nguyên có thể quay lại phục vụ đồng ruộng, góp phần hình thành phương thức sản xuất tuần hoàn.
Muốn nông dân thay đổi, phải có đầu ra và thu nhập tốt hơn
Thực tế triển khai cho thấy hiệu quả kỹ thuật là điều kiện quan trọng nhưng chưa đủ để một mô hình được nhân rộng. Nông dân còn cần sự bảo đảm về thị trường và lợi ích kinh tế.
Theo ông Ngô Xuân Chinh, cùng với hướng dẫn quy trình canh tác, đơn vị triển khai đã phối hợp với địa phương và doanh nghiệp xây dựng các thỏa thuận liên kết tiêu thụ lúa. Tại một số mô hình, giá thu mua cao hơn mức thông thường khoảng 200 - 300 đồng/kg, riêng giống ST25 mức chênh lệch khoảng 500 đồng/kg.
Dù giá thu mua còn phụ thuộc từng thời điểm và thỏa thuận cụ thể, kết quả này càng cho thấy lợi ích của việc tổ chức sản xuất gắn với thị trường. Khi vừa giảm được chi phí đầu vào, vừa có cơ hội bán lúa với giá tốt hơn, nông dân sẽ có thêm động lực duy trì quy trình sản xuất mới.
Từ diện tích triển khai ban đầu khoảng 305 ha, các mô hình đã tạo sức lan tỏa với diện tích áp dụng và nhân rộng lên đến hàng nghìn ha tại các địa phương. Để duy trì kết quả, việc đào tạo lực lượng khuyến nông cộng đồng cũng được chú trọng. Đây là những người trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi quá trình sản xuất và hỗ trợ nông dân giải quyết khó khăn sau khi mô hình trình diễn kết thúc.
Ông Phan Văn Tâm cho rằng Đề án 1 triệu ha lúa đã thúc đẩy Bình Điền thay đổi cách tiếp cận. Thay vì chỉ cung cấp phân bón, doanh nghiệp tích cực tham gia liên kết với các đơn vị nghiên cứu, cung ứng giống, cơ giới hóa, BVTV và hệ thống khuyến nông để xây dựng giải pháp sản xuất đồng bộ.
Sự phối hợp giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và khuyến nông không chỉ giúp đưa tiến bộ kỹ thuật đến gần hơn với nông dân mà còn tạo điều kiện nhân rộng những mô hình đã chứng minh hiệu quả. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi diễn ra bền vững, vai trò của nông dân phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm.
"Với Đề án 1 triệu ha lúa, diện tích tham gia không phải là thước đo duy nhất của thành công. Quan trọng hơn là tạo sự thay đổi trong phương thức sản xuất để nông dân có thu nhập tốt hơn, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu ổn định và sản phẩm gạo từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường xanh", Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.