Nông sản Việt nâng tầm chuỗi giá trị, hướng tới nền nông nghiệp xanh
Nông sản Việt nâng tầm chuỗi giá trị, hướng tới nền nông nghiệp xanh
Nông sản Việt nâng tầm chuỗi giá trị, hướng tới nền nông nghiệp xanh
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng trưởng, nhưng những hạn chế về bảo quản, chế biến và logistics đang đặt ra yêu cầu tổ chức lại sản xuất, tăng cường liên kết chuỗi và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Xuất khẩu tăng trưởng nhưng chuỗi giá trị còn nhiều điểm nghẽn
Ngày 30/10 vừa qua, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về tình hình sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập khẩu nông, lâm, thủy sản và các giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026. Cuộc họp tập trung đánh giá kết quả đạt được, đồng thời nhận diện những khó khăn cần tháo gỡ để nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 62,891 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu đạt 44,287 tỷ USD, tăng 9,2%, đưa mức xuất siêu toàn ngành lên khoảng 18,6 tỷ USD, tăng 4,7%. Trong đó, lâm sản xuất siêu 13,01 tỷ USD, thủy sản đạt 7,73 tỷ USD.
Sản xuất nông nghiệp cũng ghi nhận kết quả tích cực. Sản lượng thịt lợn hơi đạt khoảng 4,74 triệu tấn, tăng 4,4%; thịt gia cầm đạt 2,26 triệu tấn, tăng 5,5%; sản lượng thủy sản ước đạt 8,81 triệu tấn, tăng 3,8%. Ngành nông nghiệp dự kiến đạt mức tăng trưởng 4,3-4,4% trong quý IV, tạo cơ sở hướng tới mục tiêu tăng trưởng 4% cả năm.
Trong các nhóm hàng xuất khẩu, rau quả tiếp tục là điểm sáng. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm đạt 7,28 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, rau quả có ba tháng liên tiếp ghi nhận giá trị xuất khẩu vượt 1 tỷ USD mỗi tháng.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch đạt 4,72 tỷ USD trong 9 tháng, tăng 22,4%, chiếm 64,8% tổng giá trị xuất khẩu mặt hàng này. Kết quả mở ra triển vọng đưa kim ngạch rau quả tiến gần mốc 10 tỷ USD trong năm 2026. Tuy nhiên, mức độ tập trung thị trường cao cũng đặt ra yêu cầu đa dạng hóa đầu ra, nâng chất lượng sản phẩm và đáp ứng các quy định về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Bên cạnh kết quả tăng trưởng, chuỗi giá trị nông sản vẫn tồn tại nhiều bất cập. Nông dân và hợp tác xã quy mô nhỏ gặp khó khăn về vốn lưu động, thiếu kho chứa, kho sấy và hệ thống bảo quản đạt tiêu chuẩn. Vào thời điểm thu hoạch tập trung, nhiều hộ phải bán nhanh sản phẩm, dễ rơi vào tình trạng bị ép giá.
Hệ thống chế biến và logistics chưa phát huy hết công suất. Các cơ sở chế biến hiện vận hành khoảng 60-80% công suất thiết kế do thiếu kho lạnh và trung tâm logistics dùng chung. Chi phí vận chuyển, bảo quản tiếp tục làm tăng giá thành. Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, chi phí logistics bình quân trên thế giới khoảng 10%, trong khi tại Việt Nam ở mức 16%, thậm chí một số mặt hàng phải chịu mức trên 30%.
Tình trạng cung vượt cầu cục bộ cũng tiềm ẩn nguy cơ tái diễn. Chi phí phân bón, thức ăn chăn nuôi, lãi vay và vận tải duy trì ở mức cao, trong khi giá bán nhiều mặt hàng chưa tăng tương ứng. Một số sản phẩm như cà phê có sản lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị giảm; gạo và cao su cùng suy giảm cả về lượng lẫn giá.
Đối với sầu riêng, sản phẩm vẫn chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, trong khi thời gian thu hoạch rộ chỉ kéo dài khoảng ba tháng. Khả năng bảo quản và chế biến còn hạn chế khiến người trồng dễ bị động khi nguồn cung tăng mạnh. Những bất cập này cho thấy việc mở rộng sản lượng cần đi cùng đầu tư chế biến, bảo quản và tổ chức thị trường.
Tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy nông nghiệp xanh
Cùng với khó khăn trong nước, doanh nghiệp xuất khẩu còn phải thích ứng với các quy định mới về kiểm dịch, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc tại thị trường nhập khẩu. Cuối tháng 10/2026, Văn phòng SPS Việt Nam thông tin về Thông báo số 150 năm 2026 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc liên quan đến điều chỉnh quy định đăng ký đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm. Những thay đổi này đòi hỏi doanh nghiệp chủ động cập nhật hồ sơ, bảo đảm tính chính xác của thông tin và đáp ứng yêu cầu kiểm tra.
Các thị trường lớn cũng ngày càng chú trọng tiêu chuẩn môi trường và nguồn gốc sản phẩm. Ngành hàng cà phê, gỗ, cao su cần hoàn thiện dữ liệu vùng nguyên liệu để đáp ứng quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Điều đó cho thấy năng lực cạnh tranh của nông sản không còn phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng hay giá bán mà ngày càng gắn với chất lượng, tính minh bạch và khả năng kiểm soát toàn bộ quy trình sản xuất.
Trước yêu cầu này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm là duy trì tăng trưởng các nhóm hàng chủ lực gồm gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả; đồng thời tháo gỡ khó khăn cho những ngành hàng chưa đạt mục tiêu. Trong lĩnh vực thủy sản, cần kiểm soát chất lượng tôm, cá tra, bảo đảm an toàn toàn chuỗi và thực hiện nghiêm các yêu cầu chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU). Đối với rau quả, việc quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và chất lượng sản phẩm cần được tăng cường.
Một trong những giải pháp có ý nghĩa lâu dài là chuyển từ phương thức sản xuất theo khả năng cung ứng sang tổ chức sản xuất căn cứ vào nhu cầu thị trường và đơn hàng. Quy hoạch vùng trồng, vùng nuôi cần gắn với năng lực chế biến, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng tiêu thụ; hạn chế phát triển tự phát, chạy theo phong trào. Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp thu mua, chế biến và phân phối cần được củng cố bằng những hợp đồng ổn định.
Cùng với đó, đầu tư kho lạnh, cơ sở bảo quản, chế biến sâu và trung tâm logistics dùng chung sẽ góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch, hạn chế áp lực tiêu thụ trong thời gian ngắn và nâng cao giá trị sản phẩm. Đây cũng là những mắt xích quan trọng để sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu, giảm lãng phí trong chuỗi cung ứng nông sản.
Cơ quan quản lý định hướng tăng cường theo dõi cung cầu, giá cả, tồn kho, đơn hàng và chi phí vận chuyển theo từng ngành hàng, vùng sản xuất; chủ động phương án tiêu thụ trước các vụ thu hoạch lớn. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng được mở rộng sang Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh nhằm giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đánh giá mục tiêu tăng trưởng ít nhất 4% trong năm 2026 có cơ sở để hoàn thành, kim ngạch xuất khẩu nông sản dự kiến vượt 74 tỷ USD. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công Thương đẩy nhanh số hóa dữ liệu vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, tăng cường kiểm soát truy xuất nguồn gốc và ngăn chặn gian lận xuất xứ. Hai bộ cũng được giao nghiên cứu xây dựng Đề án thành lập Sàn giao dịch nông, thủy sản nhằm kết nối giao thương, quảng bá sản phẩm và minh bạch thông tin thị trường.
Về lâu dài, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, chủ động nguồn giống và phát triển chế biến sâu sẽ là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Tổ chức lại chuỗi giá trị theo hướng liên kết chặt chẽ, giảm tổn thất tài nguyên và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường không chỉ giúp gia tăng giá trị xuất khẩu mà còn tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, hiệu quả và bền vững.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.