🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Phát triển chuỗi giá trị nông sản Điện Biên theo hướng xanh, bền vững

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Phát triển chuỗi giá trị nông sản Điện Biên theo hướng xanh, bền vững

Diễn đàn nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp xanh, chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và vùng nguyên liệu của tỉnh Điện Biên và khu vực Tây Bắc.

Sáng 18/7, tại phường Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên), Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên, Hội Làm vườn Việt Nam tổ chức Diễn đàn "Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh và nâng cao chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực tại Điện Biên".

Diễn đàn nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, giảm phát thải; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và vùng nguyên liệu; đồng thời nâng cao giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Điện Biên và khu vực Tây Bắc theo hướng bền vững.

Tham dự diễn đàn có đại diện các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; lãnh đạo UBND tỉnh Điện Biên; đại diện các sở, ban, ngành của tỉnh; nguyên lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; lãnh đạo Hội Làm vườn Việt Nam; các viện nghiên cứu, trường đại học; chuyên gia, nhà khoa học; đại diện các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản; cùng đông đảo cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương.

Trong khuôn khổ diễn đàn, các đại biểu sẽ tập trung thảo luận về định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Điện Biên trong mối liên kết với vùng Tây Bắc; chia sẻ kinh nghiệm phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học - công nghệ, thúc đẩy chế biến sâu và mở rộng thị trường tiêu thụ tại Tọa đàm "Kết nối chuỗi giá trị nông sản Điện Biên theo hướng xanh, bền vững".

10h00

Cải tiến giống là khâu quyết định để mở rộng vùng trồng cà phê

ThS Đinh Thị Tiếu Oanh, Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đánh giá Điện Biên có nhiều điều kiện thuận lợi về khí hậu, thổ nhưỡng để phát triển cà phê. Định hướng mở rộng vùng trồng không chỉ góp phần đáp ứng mục tiêu kinh tế mà còn hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao.

Để nâng cao kỹ thuật sản xuất, cần tập trung cải tiến giống, từng bước chuyển đổi cơ cấu giống nhằm đa dạng hóa chủng loại, nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh. “Trước mắt, Tây Nguyên có thể hỗ trợ cung cấp nguồn giống đầu dòng, giống thuần chủng để Điện Biên chủ động quản lý, nhân giống, phân phối cho các địa phương, qua đó hình thành vùng nguyên liệu ổn định”, bà Oanh chia sẻ.

Đối với khâu canh tác, để phát triển bền vững, cần có sự tham gia của doanh nghiệp trong việc đầu tư các khu chế biến, tổ chức thu mua và sản xuất tập trung, đồng thời giải quyết bài toán nhân công trong giai đoạn thu hoạch.

Bên cạnh đó, kiến nghị thêm cho tỉnh Điện Biện, bà nhấn mạnh cần chú trọng đầu tư thâm canh, đặc biệt là quản lý dinh dưỡng hợp lý. Việc tập huấn kỹ thuật thâm canh cà phê cho người dân là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng.

Đồng thời, phát triển mô hình trồng xen, trong đó có cây mắc ca, là hướng đi phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay. Đây không chỉ giúp đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị trên cùng diện tích đất mà còn góp phần xây dựng hệ thống canh tác bền vững cho vùng cà phê Điện Biên.

Bà Oanh thông tin thêm mong muốn từ nhiều địa phương, số lần tưới nước cho cà phê giảm xuống khoảng 3-4 lượt/năm thông qua nghiên cứu cải tiến phương pháp tưới tập trung, tiết kiệm nước một cách đồng bộ.

9h45

Điện Biên tăng tốc mở rộng vùng cà phê Arabica

Với mục tiêu mở rộng vùng cà phê Arabica lên 20.000 ha trong những năm tới, Điện Biên coi đây là một trong những trụ cột của quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, gắn chặt với khoa học, chế biến và thị trường xuất khẩu.

Theo ông Lê Xuân Cảnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Điện Biên, nông nghiệp vẫn là ngành gắn trực tiếp với sinh kế của phần lớn người dân địa phương. Vì vậy, thay đổi cơ cấu cây trồng không chỉ nhằm tăng sản lượng mà quan trọng hơn là nâng giá trị trên cùng diện tích đất và tạo đầu ra ổn định cho người dân.

Điện Biên đang triển khai quyết liệt quá trình chuyển đổi này theo hướng không phát triển dàn trải mà tập trung vào một số cây trồng chủ lực có lợi thế cạnh tranh như cà phê Arabica, mắc ca và dứa. Các vùng sản xuất đều được định hướng phát triển theo quy mô lớn, gắn với doanh nghiệp thu mua và chế biến thay vì sản xuất manh mún như trước.

Hiện tỉnh có khoảng 12.000 ha mắc ca, đứng thứ hai cả nước sau Lâm Đồng; 8.500 ha cà phê Arabica, đứng thứ ba sau Sơn La và Lâm Đồng; cùng khoảng 1.200 ha dứa.

Riêng năm 2026, Điện Biên đặt mục tiêu phát triển thêm 6.000 ha mắc ca và 6.000 ha cà phê. Tuy nhiên, theo tính toán của địa phương, diện tích cà phê trồng mới có thể đạt tới khoảng 8.000 ha, tương đương tổng diện tích mở rộng của nhiều năm trước cộng lại. Xa hơn, tỉnh hướng tới mục tiêu 20.000 ha cà phê Arabica theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh.

Theo ông Cảnh, dư địa để thực hiện mục tiêu này còn rất lớn. Điện Biên hiện có khoảng 300.000 ha đất trống cùng nhiều diện tích trồng lúa, ngô và sắn có thể chuyển đổi sang các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn. Nếu xét riêng về quỹ đất có khả năng chuyển đổi, địa phương thuộc nhóm lớn nhất cả nước.

Tuy nhiên, ông cho rằng mở rộng diện tích chỉ là điều kiện cần. Điều quyết định là toàn bộ chuỗi giá trị phải được xây dựng đồng bộ, từ giống, quy trình kỹ thuật, chế biến đến thị trường tiêu thụ và các điều kiện phục vụ xuất khẩu như mã số vùng trồng hay chỉ dẫn địa lý. Đây cũng là lý do Điện Biên kỳ vọng nhiều hơn vào sự tham gia của các nhà khoa học trong giai đoạn phát triển mới.

Theo ông Cảnh, với các cây công nghiệp dài ngày như cà phê hay mắc ca, yếu tố giống đặc biệt quan trọng vì nếu lựa chọn sai, địa phương có thể phải mất hàng chục năm để khắc phục hậu quả. Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư 12/2026/TT-BNNMT sửa đổi Thông tư 17/2019/TT-BNNPTNT, chỉ giữ lúa và ngô trong danh mục cây trồng chính, cũng tạo điều kiện để các địa phương chủ động hơn trong việc phát triển các giống cây trồng khác.

Điện Biên đang đặt nhiều kỳ vọng vào giống cà phê mới THA1 sau quá trình thử nghiệm tại huyện Tuần Giáo từ năm 2024. Cùng với đó, tỉnh mong muốn có thêm các nghiên cứu về giống mắc ca phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương.

Theo ông Cảnh, nhiều khuyến cáo hiện nay cho rằng mắc ca thích hợp ở độ cao trên 500 m. Tuy nhiên, khoảng 20% diện tích đất của Điện Biên nằm dưới ngưỡng này. Vì vậy, địa phương mong muốn có thêm các nghiên cứu để xác định cụ thể khả năng sinh trưởng của cây mắc ca ở từng vùng, thay vì áp dụng chung một ngưỡng kỹ thuật.

Không chỉ giống, các giải pháp canh tác cũng cần được nghiên cứu riêng cho điều kiện thổ nhưỡng của Điện Biên. Địa phương đề xuất nghiên cứu mô hình trồng xen mắc ca với cà phê, cũng như đánh giá khả năng điều chỉnh mật độ trồng phù hợp thay vì áp dụng theo mức bình quân hiện nay (3.500 cây/ha).

Đối với cây dứa, tỉnh cũng kỳ vọng các giống mới như MD2 sẽ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng, tạo thêm lựa chọn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Để phục vụ mục tiêu này, Điện Biên đề nghị Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) nghiên cứu khả năng đặt thêm một cơ sở của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc tại Điện Biên bên cạnh cơ sở hiện có ở Sơn La, nhằm tăng cường nghiên cứu và chuyển giao công nghệ ngay tại địa phương.

Đặt nhiều mục tiêu, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Điện Biên thừa nhận, mọi quy hoạch phát triển đều phải dựa trên tín hiệu thị trường. Theo ông Cảnh, so với khoảng 700.000 ha cà phê ở Tây Nguyên, quy mô sản xuất của Điện Biên hiện vẫn còn rất nhỏ. Tuy nhiên, khi diện tích Arabica tăng lên khoảng 20.000 ha, câu hỏi đặt ra là liệu thị trường có đủ sức hấp thụ hay không, nhất là đối với phân khúc cà phê Arabica chất lượng cao.

Đây là lý do địa phương cho rằng việc mở rộng diện tích phải đi cùng phát triển chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường xuất khẩu, thay vì chỉ tập trung vào sản xuất.

Một nút thắt khác là hạ tầng phục vụ xuất khẩu. Hiện toàn tỉnh mới có 1-2 mã số vùng trồng, trong khi mục tiêu lâu dài là xây dựng vùng nguyên liệu có quy mô lên tới hàng chục nghìn ha đủ điều kiện xuất khẩu.

Theo ông Cảnh, khoảng cách giữa hiện trạng và mục tiêu vẫn còn rất lớn, đòi hỏi sự phối hợp giữa địa phương, doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu để hoàn thiện toàn bộ chuỗi sản xuất, từ giống đến thị trường.

Nếu trước đây lợi thế lớn nhất của Điện Biên là quỹ đất, thì trong giai đoạn phát triển mới, lợi thế đó chỉ có thể được chuyển thành giá trị kinh tế khi đi cùng khoa học công nghệ, quy hoạch theo tín hiệu thị trường và hệ thống tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Đây cũng là nền tảng để tỉnh hiện thực hóa mục tiêu hình thành những vùng cây công nghiệp quy mô lớn, tạo sinh kế bền vững cho người dân miền núi.

9h00

Công nghệ sau thu hoạch là ‘mảnh ghép’ còn thiếu của nông sản Điện Biên

Chia sẻ tại Diễn đàn, PGS.TS Phạm Anh Tuấn, nguyên Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, cho rằng công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch là chìa khóa để nâng cao giá trị gia tăng, giảm tổn thất và thúc đẩy phát triển bền vững các nông sản chủ lực của tỉnh.

Theo PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Điện Biên có nhiều lợi thế với các sản phẩm như gạo Điện Biên, cà phê Arabica Mường Ảng, mắc ca, chè Shan tuyết, rau quả và dược liệu. Tuy nhiên, phần lớn nông sản vẫn được tiêu thụ dưới dạng tươi hoặc sơ chế, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, trong khi hệ thống bảo quản, kho lạnh và liên kết chuỗi giá trị chưa đáp ứng yêu cầu. Tổn thất sau thu hoạch đối với nhiều nhóm nông sản vẫn ở mức cao, đặc biệt là rau quả, làm giảm đáng kể giá trị kinh tế.

Để khắc phục tình trạng này, PGS.TS Phạm Anh Tuấn cho rằng cần đẩy mạnh ứng dụng đồng bộ các công nghệ sau thu hoạch. Trong đó, các giải pháp như xử lý bằng chế phẩm sinh học, ozone, plasma lạnh, kết hợp bảo quản trong môi trường khí quyển điều khiển (CA) và bao gói khí biến đổi (MAP) có thể kéo dài thời gian bảo quản, hạn chế hao hụt và giữ chất lượng nông sản.

Đối với các loại quả có múi, việc sử dụng chế phẩm tạo màng giúp kéo dài thời gian bảo quản từ 30-90 ngày, trong khi công nghệ xử lý chín bằng khí ethylene giúp trái cây chín đồng đều, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ và chế biến.

Ở khâu chế biến, nhiều công nghệ đã được các nhà khoa học trong nước làm chủ và sẵn sàng chuyển giao như sấy bơm nhiệt, sấy thăng hoa, chiên chân không liên tục, cấp đông siêu tốc bằng chất tải lạnh lỏng, sản xuất puree trái cây và trích ly hoạt chất từ dược liệu.

“Các công nghệ này không chỉ giữ được màu sắc, hương vị và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm mà còn giúp tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí đầu tư, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và đáp ứng yêu cầu của những thị trường xuất khẩu khó tính”, PGS.TS Phạm Anh Tuấn phân tích.

Nguyên Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cho rằng, để các công nghệ phát huy hiệu quả, Điện Biên cần phát triển đồng bộ từ vùng nguyên liệu, lựa chọn công nghệ phù hợp với từng nhóm sản phẩm đến đầu tư hệ thống chế biến, bảo quản và xây dựng chuỗi liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

“Đây là giải pháp quan trọng giúp giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị cho các sản phẩm chủ lực, đồng thời góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và chuỗi giá trị bền vững của tỉnh”, chuyên gia nhấn mạnh.

8h50

THA1 tăng sức bật cho cà phê Arabica Điện Biên

Theo ThS Đinh Thị Tiếu Oanh, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, đến năm 2025, Điện Biên có 8.121 ha cà phê, trong đó diện tích trồng mới đạt 3.660 ha. Năm nay, địa phương dự kiến mở rộng thêm 5.167 ha, nâng tổng diện tích lên 13.558 ha và hướng tới mục tiêu 20.000 ha vào năm 2030. Hiện sản lượng đạt khoảng 6.500 tấn, năng suất bình quân 1,37 tấn nhân/ha, với giống chủ lực vẫn là Catimor.

“Về công tác chọn tạo giống, Viện thực hiện quy trình theo ba bước chính. Đầu tiên, thu thập nguồn nguyên liệu tại vườn tập đoàn hoặc tiến hành phối hợp lai tạo để tạo con lai F1. Sau đó chọn lọc chuyên sâu theo ba hướng khác nhau: chọn lọc các dòng thuần xuất sắc trực tiếp từ vườn tập đoàn, tận dụng ưu thế lai của thế hệ F1, hoặc thực hiện chọn lọc phả hệ từ con lai nhằm cố định những tính trạng mong muốn. Cuối cùng, tất cả các dòng giống tiềm năng đều phải trải qua quá trình khảo nghiệm nghiêm ngặt để đánh giá năng suất và khả năng thích nghi trước khi chính thức được cung cấp cho sản xuất đại trà”, ThS Oanh cho biết.

Một trong những kết quả nổi bật là giống Arabica THA1 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên nghiên cứu và được công bố lưu hành từ tháng 5/2026. Giống này được phép phát triển tại nhiều vùng trồng cà phê trên cả nước, trong đó có Điện Biên và Sơn La.

So với giống Catimor, THA1 cho nhiều ưu thế vượt trội. Năng suất bình quân đạt từ 2,94-3,25 tấn nhân/ha, gần gấp đôi năng suất hiện nay của Điện Biên. Giống có khả năng sinh trưởng khỏe, thích nghi tốt tại các vùng có độ cao trên 600m, cây thấp, tán gọn, phù hợp với trồng mật độ cao. Đặc biệt, THA1 có khả năng kháng bệnh gỉ sắt tốt, góp phần giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng cà phê phục vụ chế biến, xuất khẩu.

Liên quan đến thị trường xuất khẩu, ThS Oanh nhấn mạnh các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe, đặc biệt là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Theo quy định này, cà phê xuất khẩu vào EU phải được sản xuất trên diện tích không có nguồn gốc từ đất rừng bị chuyển đổi sang đất nông nghiệp sau ngày 31/12/2020.

“EUDR áp dụng định nghĩa ‘rừng’ theo tiêu chuẩn của FAO, vì vậy, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý truy xuất nguồn gốc vùng trồng, đồng thời bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam. Đây được xem là điều kiện quan trọng để cà phê Điện Biên nâng cao giá trị và đáp ứng các yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu”, bà Oanh nói.

8h40

Cà phê arabica là điểm sáng

Điện Biên là địa phương giàu tiềm năng với nguồn tri thức bản địa phong phú, tạo nền tảng quan trọng để phát huy giá trị đa dạng sinh học và phát triển nền nông nghiệp đặc trưng. Bên cạnh thế mạnh về cây lương thực, Điện Biên còn nhiều dư địa phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm có giá trị cao.

Theo TS Lê Văn Đức, đại diện Hội Làm vườn Việt Nam, cà phê Arabica là một điểm sáng nổi bật, có tiềm năng xây dựng sản phẩm đặc sản và nâng cao giá trị. Cùng với đó, cây chè là một lợi thế lớn khi khoảng 70% diện tích là các giống chè chất lượng cao, việc cơ giới hóa trong chăm sóc, đốn, hái đang được đẩy mạnh.

“Có thể thấy, Điện Biên đang có những lợi thế rất rõ để phát triển nông nghiệp đa giá trị, trong đó cà phê và mắc ca là những sản phẩm giàu tiềm năng”, TS Lê Văn Đức khẳng định.

Ngoài cà phê, chè, các cây trồng như cao su - gắn với vùng biên giới, mắc ca, xoài, chuối, cam, bưởi, cùng các sản phẩm đặc trưng phía Bắc như mận, lê đang mở ra hướng phát triển đa dạng cho nông nghiệp địa phương.

Tuy nhiên, biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ nét đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế người dân khu vực phía Bắc. Vì vậy, phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao khả năng thích ứng.

Đại diện Hội Làm vườn Việt Nam đề xuất giải pháp phát triển kinh tế vườn tuần hoàn trên nền tảng mô hình VAC truyền thống, nhưng được nâng cấp bằng khoa học công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật. Tại Điện Biên, nhiều mô hình tuần hoàn kết hợp nông nghiệp sinh thái với du lịch trải nghiệm đã bước đầu hình thành.

Trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm: thiết kế lại mô hình VAC tuần hoàn thích ứng với biến đổi khí hậu; quản lý hiệu quả nguồn nước; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp; tăng cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.

Đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu minh bạch của thị trường, TS Đức kiến nghị sản xuất cần được số hóa, từ ghi chép nhật ký sản xuất, xây dựng mã số vùng trồng, áp dụng QR Code truy xuất nguồn gốc đến phát triển sản phẩm OCOP và nâng cao vai trò của hợp tác xã.

Về giải pháp cho kinh tế vườn tuần hoàn, cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, huy động nguồn lực đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo, tuyên truyền và nhân rộng các mô hình hiệu quả. Cũng như, xây dựng sổ tay phát triển kinh tế vườn tuần hoàn, tổ chức tập huấn tại các địa phương trọng, xây dựng mô hình mẫu và phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng.

8h30

Điện Biên hút đầu tư bằng chuỗi giá trị nông nghiệp xanh

Nếu chỉ giữ vai trò là nơi cung cấp nguyên liệu thô, những lợi thế về đất đai, khí hậu và tài nguyên sinh thái của Điện Biên sẽ khó chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Vì vậy, địa phương đang lựa chọn hướng đi mới. Đó là, phát triển các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến sâu, liên kết chuỗi giá trị và sản xuất xanh nhằm tạo sức hút đối với doanh nghiệp, đồng thời nâng cao thu nhập cho người dân.

Đây là định hướng được ông Lò Văn Cương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên nêu tại Diễn đàn "Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh và nâng cao chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực tại Điện Biên" sáng 18/7.

Theo ông Cương, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu dần trở thành yêu cầu bắt buộc nếu muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.Với diện tích tự nhiên hơn 950.000 ha, trong đó đất nông, lâm nghiệp chiếm hơn 90%,

Điện Biên được đánh giá có nhiều điều kiện để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Những năm gần đây, tỉnh đã cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, xanh, thông minh và bền vững. Trọng tâm là phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu, ứng dụng khoa học công nghệ và liên kết chuỗi giá trị nhằm gia tăng giá trị sản phẩm.

Đến nay, nhiều vùng sản xuất tập trung hình thành. Các sản phẩm chủ lực như cà phê, mắc ca, cao su, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc tiếp tục mở rộng quy mô.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo tỉnh, những kết quả này chưa tương xứng với tiềm năng. Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị chưa bền vững, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, trong khi số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp chưa nhiều. Đây là những điểm nghẽn khiến giá trị gia tăng của nông sản Điện Biên chưa cao và khả năng cạnh tranh còn hạn chế.

Trong bối cảnh đó, Điện Biên xác định việc thu hút doanh nghiệp không chỉ dừng ở mở rộng diện tích vùng nguyên liệu mà phải hướng tới đầu tư vào toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến, bảo quản đến tiêu thụ và xuất khẩu.

Tỉnh đặc biệt mong muốn tiếp nhận các giải pháp khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để phát triển bền vững các ngành hàng chủ lực. Cùng với đó là các mô hình nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và giảm phát thải đã được kiểm chứng, có khả năng áp dụng tại các tỉnh miền núi.

Một trọng tâm khác là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong sản xuất. Việc phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp thông minh, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường được xem là điều kiện để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản.

Đổi mới công nghệ được tỉnh đặt song hành với hoàn thiện mô hình liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Đây là nền tảng để phát triển vùng nguyên liệu ổn định, tạo đầu ra bền vững cho người sản xuất và giảm rủi ro trong quá trình tiêu thụ nông sản.

Để tạo điều kiện cho dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực này, ông Cương cho biết Điện Biên sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án. Mục tiêu nhằm rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục, tháo gỡ các khó khăn phát sinh và tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn cho các dự án nông nghiệp.