Phim: Khoa học công nghệ tạo sức bật mới cho nông nghiệp tăng trưởng

Phim chiếu tại Hội nghị 'Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp' ngày 27/10 tại Hà Nội.
Phim: Khoa học công nghệ tạo sức bật mới cho nông nghiệp tăng trưởng
Thứ Ba 27/10/2026 , 21:13 (GMT+7)
Phim chiếu tại Hội nghị 'Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp' ngày 27/10 tại Hà Nội.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra động lực mới, nâng cao năng suất, chất lượng, thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững.
KỊCH BẢN PHIM 15 PHÚT
MỞ ĐẦU
Nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Trước yêu cầu tăng trưởng cao và phát triển bền vững, ngành cần những động lực mới từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
TÊN PHIM:
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TẠO SỨC BẬT MỚI CHO NÔNG NGHIỆP TĂNG TRƯỞNG
Chặng đường 5 năm qua, giai đoạn 2021-2026, trong khoa học nông nghiệp, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng, được chứng minh bằng những con số rất cụ thể: 225 giống mới trong các lĩnh vực trồng trọt, vật nuôi, thủy sản, lâm nghiệp; 150 tiến bộ kỹ thuật; 158 bằng độc quyền sáng chế cùng nhiều quy trình công nghệ được công nhận.
Đặc biệt, qua rà soát, ngành đã xác định 22 sản phẩm khoa học và công nghệ cơ bản đáp ứng các tiêu chí về sản phẩm công nghệ chiến lược, thuộc các nhóm giống cây trồng, giống vật nuôi, giống thủy sản, vắc xin và chế phẩm sinh học.
Bắc Thơm 7 và BC15 từ lâu đã quen thuộc với nông dân miền Bắc. Bắc Thơm 7 được ưa chuộng nhờ chất lượng gạo và hương thơm đặc trưng; BC15 là giống lúa thuần năng suất cao, chất lượng tốt, phổ thích ứng rộng, gieo trồng được các vụ trong năm. Đã có năm, diện tích gieo trồng giống BC15 lên tới 700 nghìn hecta, đem lại nhiều mùa vụ bội thu. Tuy nhiên, bệnh bạc lá trên Bắc Thơm 7 và bệnh đạo ôn trên BC15 là những hạn chế ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất, đặt ra yêu cầu cải tiến khả năng chống chịu của giống.
Trước yêu cầu đó, các nhà khoa học tại Viện Cây Lương thực và Cây thực phẩm phối hợp với Thaibinh Seed đã ứng dụng công nghệ chọn giống bằng chỉ thị phân tử để cải tiến hai giống lúa này. Những giống lúa thế hệ mới Bắc Thơm 7 kháng bạc lá và BC15 kháng đạo ôn, đồng thời giữ được các đặc tính tốt của giống ban đầu, góp phần giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân.
TS Dương Xuân Tú
Phó viện trưởng Phụ trách Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
“Chúng tôi đã dùng phương pháp chỉ thị phân tử…”
AHLĐ Trần Mạnh Báo
Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Thái Bình Seed
“Việc cải tiến giống đem lại giá trị kinh tế hàng trăm tỷ đồng”
Rau quả là một trong những ngành hàng có bước phát triển nổi bật những năm gần đây. Cùng với việc mở rộng thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, bảo quản và truy xuất nguồn gốc đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt 8,56 tỷ USD, hướng tới mốc 10 tỷ USD trong năm 2026. Bên cạnh sầu riêng, nhiều sản phẩm như dứa, chanh dây, chuối, xoài còn nhiều tiềm năng nâng cao giá trị xuất khẩu thông qua cải tiến giống, quy trình canh tác và công nghệ sau thu hoạch.
Tại tỉnh Nghệ An, dự án nhà máy dứa với công suất chế biến 30.000 tấn dứa tươi/năm và 20.000 tấn dứa cô đặc/năm vừa được tỉnh chấp thuận để Tập đoàn DOVECO xây dựng. Đây sẽ là nhà máy chế biến dứa lớn nhất cả nước với công nghệ hiện đại của Hoa Kỳ, mở ra một ngành hàng triển vọng, có thể làm giàu cho vùng Bắc Trung bộ.
Ông Đinh Cao Khuê
Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Đồng Giao (DOVECO)
“Nếu Bắc Trung bộ có 20-30 nghìn ha dứa, có thể xuất khẩu 1-2 tỷ đô la. Người dân trong vùng sẽ khá lên. Chúng tôi mong muốn Bộ Nông nghiệp và Môi trường quan tâm định hướng có chương trình phát triển cây dứa ở Bắc Trung bộ, trong đó có những nghiên cứu sâu về giống và khoa học công nghệ cho cây dứa”.
Cà phê là ngành hàng xuất khẩu quan trọng của nông nghiệp Việt Nam. Năm 2025 xuất khẩu cà phê đạt 8,9 tỷ USD.
Bên cạnh vùng cà phê Robusta tập trung quy mô lớn tại Tây Nguyên, Sơn La và Điện Biên đang mở ra triển vọng phát triển cà phê Arabica ở Tây Bắc. Theo dự kiến, đến hết năm 2026, diện tích cà phê Sơn La đạt trên 45 nghìn hecta, Điện Biên đạt 15 nghìn hecta; trong 2-3 năm tới, diện tích cà phê toàn vùng Tây Bắc có thể đạt khoảng 100 nghìn hecta.
Đây là dư địa và là động lực mới để xuất khẩu cà phê Việt Nam hướng tới mốc 10 tỷ USD.
Ths Đinh Thị Tiếu Oanh
Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
“……………………….”
Ông Nguyễn Thành Công, PCT UBND tỉnh Sơn La.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, những thành tựu nghiên cứu chọn tạo giống và kỹ thuật trồng rừng đã góp phần đưa cây keo trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến gỗ. Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha keo, hằng năm cung cấp gần 20 triệu m³ gỗ.
Theo Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đến nay đã có trên 60 dòng, giống keo được công nhận, trong đó nhiều giống có năng suất cao đạt tới 25-30 tấn/ha/năm, chất lượng gỗ tốt. Sau 3 năm trồng, cây có thể đạt chiều cao 8-10 m, sinh trưởng đồng đều, thân thẳng, cành nhánh nhỏ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nguyên liệu gỗ chế biến. Một số dòng, giống có khả năng chống chịu với những bệnh nguy hiểm như chết héo, mục ruột và thối rễ.
Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu này chưa được khai thác đầy đủ trong sản xuất. Nhiều hộ trồng rừng vẫn sử dụng một số giống cũ được chọn tạo từ hơn hai thập kỷ trước, trong khi các giống mới chưa được phổ biến rộng rãi. Nhiều tiến bộ kỹ thuật về quản lý lập địa, bón phân hợp lý, quản lý vật liệu hữu cơ sau khai thác, trồng và chuyển hóa rừng gỗ lớn đã được công nhận nhưng việc áp dụng còn hạn chế.
TS Trần Lâm Đồng
PGĐ Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
“Chúng tôi khuyến cáo và sẵn sàng đồng hành cùng các địa phương để đưa nhanh giống mới vào sản xuất. Nếu áp dụng đồng thời giống tốt và biện pháp kỹ thuật lâm sinh qua nhiều chu kỳ kinh doanh cho năng suất rừng cao hơn 1,5 - 2 lần so với đại trà, đồng thời duy trì được độ phì đất và năng suất rừng dài hạn”.
Trong lĩnh vực thủy sản, những tiến bộ về sản xuất giống và công nghệ nuôi đã góp phần mở rộng nuôi trồng trên cả nước, tạo nguồn nguyên liệu quan trọng cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Nhiều loài như cá song, cá vược, cá chim vây vàng, cá nhụ, ngao, hàu biển… đã được sinh sản nhân tạo thành công; công nghệ nuôi thương phẩm cũng từng bước được hoàn thiện. Những thành tựu này góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất, tạo nền tảng để xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt trên 11 tỷ USD năm 2025.
Phỏng vấn PGS.TS Đặng Thị Lụa, GĐ Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam:
Một số công nghệ hiện đại Viện đang triển khai trên các đối tượng con nuôi chủ lực?
Trong lĩnh vực chăn nuôi, sự phát triển của ngành bò sữa cho thấy vai trò của khoa học công nghệ trong nâng cao năng suất, chất lượng và tổ chức sản xuất. Các doanh nghiệp như Vinamilk, TH đã đầu tư hệ thống trang trại, ứng dụng công nghệ tiên tiến từ chọn giống, quản lý dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe đàn bò đến vắt sữa tự động và kiểm soát chất lượng.
Một mô hình tiêu biểu là cụm 9 trang trại bò sữa của Tập đoàn TH tại Nghệ An. Trong điều kiện khí hậu miền Trung, việc ứng dụng đồng bộ công nghệ và quy trình quản lý đã góp phần phát triển chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô lớn. Sau 17 năm phát triển, tổng đàn bò của TH tại các trang trại trên cả nước đã đạt hơn 75.000 con, cung cấp nguồn sữa tươi phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Thực tiễn này cho thấy, hiệu quả đầu tư phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận, vận hành và ứng dụng công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam, cùng với đội ngũ nhân lực được đào tạo và hệ thống quản lý chất lượng xuyên suốt từ trang trại đến sản phẩm.
Phỏng vấn chuyên gia Tập đoàn TH
Doanh nghiệp đi tắt đón đầu đưa giống mới cùng các công nghệ tiên tiến trên thế giới áp dụng tại Việt Nam như thế nào?
Việt Nam nuôi bò sữa bằng công nghệ hiện đại của thế giới. Hạt gạo Việt Nam ngon top đầu thế giới và giống lúa Việt Nam có nhiều ưu điểm để bất kỳ nhà chọn giống nào trên thế giới cũng đều mong muốn: Năng suất cao, chất lượng gạo ngon, thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng rộng ở nhiều vùng sinh thái, chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận tốt. Các giống lúa của Việt Nam đã được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới như Campuchia, Thái Lan, Lào, Brunei, Indonesia, Cu Ba, Nam Á và Châu Phi.
Việt Nam làm chủ công nghệ và sản xuất được hầu hết sản phẩm vắc xin phòng các bệnh quan trọng như Cúm gia cầm, Lở mồm long móng, Tai xanh, đặc biệt vắc xin Dịch tả lợn Châu Phi lần đầu tiên trên thế giới được Việt Nam sản xuất và xuất khẩu sang 5 nước: Philippines, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Myanmar.
PHẦN 3: THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN, TẠO SỨC BẬT MỚI
Những thành tựu trong sản xuất cho thấy tiềm năng và năng lực của khoa học công nghệ nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi, vẫn còn những khoảng cách cần vượt qua, từ hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm trong điều kiện thực tế đến tổ chức chuyển giao và phát triển thị trường.
Bổ sung:
Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quyết tâm lớn của Đảng, Chính phủ nhằm tạo động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của đất nước. Nghị quyết 57 đang được cụ thể hóa bằng những chỉ đạo quyết liệt, yêu cầu rõ tiến độ, rõ trách nhiệm và kết quả thực hiện.
Bám sát định hướng đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động triển khai các nhiệm vụ theo đúng thời hạn được giao. Nghiên cứu chọn giống hệ gen nâng cao tăng trưởng và kháng bệnh trên cá tra đã được phê duyệt; công nghệ lõi sản xuất vắc xin đa giá thế hệ mới đang được thúc đẩy. Những bước đi này hướng tới nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, tạo ra sản phẩm có giá trị thiết thực đối với sản xuất nông nghiệp.
Phần sau bỏ vì đã có ý trong phần bổ sung
Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu khơi thông nguồn lực, tháo gỡ những điểm nghẽn để khoa học công nghệ đóng góp thiết thực hơn cho tăng trưởng.
Với các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu, nhiệm vụ cần xuất phát từ nhu cầu sản xuất, xác định rõ sản phẩm và đơn vị dự kiến tiếp nhận. Đối với những công nghệ mới, phức tạp như chỉnh sửa gen, cần làm rõ năng lực, mức độ làm chủ và phương án hợp tác để bảo đảm tính khả thi. Quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng công nghệ và khả năng thương mại hóa cũng cần được xem xét ngay từ khi xây dựng nhiệm vụ.
Về phía cơ quan quản lý, cần quan tâm đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, tạo nền tảng phát triển công nghệ lõi; đồng thời bố trí nguồn lực phù hợp cho khâu hoàn thiện, thử nghiệm và xác thực công nghệ trong điều kiện sản xuất. Các quy định về đánh giá rủi ro, khảo nghiệm, kiểm định và cấp phép cần được hoàn thiện, phối hợp thực hiện đồng bộ, với trách nhiệm rõ ràng.
Mục tiêu sản phẩm trong năm 2026 và đến năm 2030 cần phù hợp với mức độ sẵn sàng của công nghệ và đặc thù từng nhóm nhiệm vụ.
Vậy, cần những điều chỉnh gì về cơ chế quản lý và bố trí nguồn lực để quá trình từ nghiên cứu đến ứng dụng được thông suốt, đồng thời tạo điều kiện cho nhà khoa học và doanh nghiệp cùng tham gia phát triển công nghệ?
Phỏng vấn Ông Nguyễn Phú Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)
Ba câu hỏi có thể khai thác, sau đó chọn lấy 1-2 ý rõ nhất đưa vào phim:
Từ góc độ quản lý khoa học công nghệ cấp quốc gia, theo ông, điểm nghẽn nào cần ưu tiên tháo gỡ để các kết quả nghiên cứu trong nông nghiệp được ứng dụng rộng rãi hơn?
Với những công nghệ cần nhiều thời gian hoàn thiện và kiểm chứng trong điều kiện sản xuất (đặc thù của ngành nông nghiệp), cơ chế đặt hàng, bố trí kinh phí và đánh giá kết quả cần được thiết kế thế nào để có thể kế thừa, tiếp tục phát triển qua từng giai đoạn?
Cần có cơ chế gì để doanh nghiệp và đơn vị sử dụng tham gia từ khâu xác định nhu cầu, thử nghiệm đến tiếp nhận công nghệ? Bộ Khoa học và Công nghệ có thể phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương như thế nào để thúc đẩy quá trình này?
PHẦN 4: LỜI KẾT
Nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu cao hơn về năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực đưa ngành nông nghiệp tiến xa hơn trên hành trình ấy.
Từ phòng thí nghiệm đến đồng ruộng, từ ý tưởng đến sản phẩm, mỗi điểm nghẽn được tháo gỡ sẽ mở thêm cơ hội để tri thức đi vào cuộc sống, để thành quả nghiên cứu trở thành thu nhập của người sản xuất và giá trị của nông sản Việt.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.