🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Quy trình thâm canh bền vững giống cà phê chè THA1

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Quy trình thâm canh bền vững giống cà phê chè THA1

Quy trình kỹ thuật này áp dụng cho các tỉnh vùng Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Trung du miền núi phía Bắc.

Quy trình kỹ thuật này áp dụng cho các tỉnh vùng Tây Nguyên và Đông Nam bộ (Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng), vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (Nghệ An, TP Huế, Quảng Trị, Quảng Ngãi) và Trung du miền núi phía Bắc (Sơn La, Điện Biên).

Nguồn gốc:

  • Cơ quan chọn tạo: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên.

  • Nguồn vật liệu: Dòng chọn lọc phả hệ của con lai TN1 (KH 3-1 x Catimor) đến thế hệ F5.

**Năng suất: **Năng suất nhân/ha: 3,0 tấn

**Sinh trưởng: **Sinh trưởng khỏe, kiểu hình cây thấp

**Tán: **Tán gọn, phân cành nhiều, đốt nhặt, cành cơ bản ngắn, thích hợp ở mật độ trồng dày.

**Lá: **To trung bình, dạng lá thuôn dài

Màu sắc lá thuần thục: xanh đậm

Quả chín:

Màu sắc quả chín: đỏ tươi

Dạng quả: oval

Hạt:

Tỉ lệ tươi/nhân: 5,6

Trọng lượng 100 nhân: 17,3 g

Hạt loại 1: 84,9%

Chất lượng thử nếm: >80 điểm theo SCA

**Kháng gỉ sắt: **Cao

PHẦN I: QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi áp dụng

Quy trình kỹ thuật này áp dụng cho các tỉnh vùng Tây Nguyên và Đông Nam bộ (Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng), vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (Nghệ An, TP Huế, Quảng Trị, Quảng Ngãi) và Trung du miền núi phía Bắc (Sơn La, Điện Biên).

2. Căn cứ xây dựng quy trình

  • TCVN 9278:2012 Cà phê quả tươi - yêu cầu kỹ thuật

  • TCVN 4334-2001 (ISO 3509-1989): Cà phê và các sản phẩm của cà phê, thuật ngữ và định nghĩa.

  • 10TCN 98-88: Quy trình kỹ thuật chế biến cà phê.

  • 10 TCN 527-2002: Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cà phê chè.

  • 4428/QĐ-BNN-TT: Quy trình tái canh cà phê chè ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

3. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật

  • Thời kỳ kiến thiết cơ bản: 3 năm (1 năm trồng mới, 2 năm chăm sóc)

  • Năng suất bình quân trong suốt thời kỳ kinh doanh:

  • Trên đất nâu đỏ bazan: 2,5 - 3,5 tấn nhân/ha

  • Trên các loại đất khác: 2,0 - 3,0 tấn nhân/ha

  • Chu kỳ kinh doanh: 15 - 20 năm.

PHẦN II: QUY TRÌNH KỸ THUẬT

1. Yêu cầu điều kiện sinh thái

1.1. Yêu cầu về độ cao và địa hình

  • Độ cao so với mực nước biển: Từ 600 m đến 2.000 m, độ cao thích hợp nhất là 1.000 m - 2.000 m.

  • Độ dốc: Đất có độ dốc từ 0 - 15°, thích hợp nhất là dưới 8°. Trừ một số vùng đồi núi đặc thù, độ dốc có thể > 20°.

1.2. Yêu cầu về thời tiết, khí hậu

  • Nhiệt độ: Thích hợp từ 15 - 24°C. Nhiệt độ cao hơn 30°C hoặc xuống dưới 15°C kéo dài đều làm cho cây cũng như quả cà phê chè tăng trưởng và phát triển kém. Nhiệt độ xuống dưới 5°C cây bắt đầu ngừng quang hợp, những vùng thường xuất hiện băng giá, sương muối không nên trồng cà phê chè.

  • Lượng mưa: Thích hợp nhất từ 1.200 - 1.500 mm, cần có thời gian khô hạn tối thiểu 2 tháng sau khi thu hoạch kèm theo nhiệt độ thấp.

  • Ẩm độ: Thích hợp nhất là > 70%.

  • Ánh sáng: Cà phê ưa ánh sáng tán xạ, những nơi có ánh sáng cường độ mạnh cần trồng cây che bóng.

  • Gió: Gió lạnh, nóng, khô đều có hại đến sinh trưởng của cây cà phê chè.

1.3. Yêu cầu về đất đai

  • Tầng đất canh tác dày > 70 cm; độ xốp > 60%, thoát nước tốt; mực nước ngầm sâu > 100 cm.

  • pH đất thích hợp từ 4,5 - 6,0; hàm lượng hữu cơ tầng đất mặt (0 - 30 cm) > 2,5%.

  • Các đất phong hóa từ đá mẹ magma, đá vôi, sa phiến thạch, granite, phù sa cổ... đáp ứng các điều kiện trên đều trồng được cà phê chè. Đất đỏ bazan hình thành từ đá magma là thích hợp nhất cho việc trồng cà phê chè.

2. Kỹ thuật trồng mới

2.1. Thời vụ trồng

  • Khu vực Tây Nguyên và Đông Nam bộ: Thời vụ trồng bắt đầu vào đầu mùa mưa và kết thúc trước mùa khô 2 - 3 tháng, thời điểm thích hợp nhất từ 15/5 đến 15/8.

  • Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ: Từ đầu tháng 6 đến hết tháng 8.

  • Khu vực Trung du miền núi phía Bắc: Từ 20/4 đến hết tháng 7.

2.2. Thiết kế vườn cây

  • Đối với khu đất có diện tích lớn, địa hình ít phân cắt, cần thiết kế thành từng khoảnh 10 - 15 ha, chiều dài theo đường đồng mức. Trong khoảnh chia ra thành từng lô khoảng 1 ha (50 x 200 m).

  • Đối với khu đất hẹp, địa hình phân cách mạnh thì chia lô theo đường phân cách của địa hình.

  • Tiếp giáp giữa các khoảnh làm đường vận chuyển rộng 4 - 5 m.

  • Giữa các lô tùy theo địa hình cần có các đường phân lô rộng 2 - 3 m theo đường đồng mức.

2.3. Chuẩn bị đất trồng

  • Đất từ các vườn cây bạch đàn, keo tai tượng, vườn cây ăn quả lâu năm, vườn cà phê già cỗi hoặc bị bệnh thối rễ phải thanh lý thì phải xử lý đất bằng các biện pháp khai hoang, cày bừa, rà rễ, gieo trồng cây phân xanh họ đậu, cây đậu đỗ từ 1 - 3 vụ, vùi thân lá vào đất để cải tạo đất, xử lý vôi, thuốc diệt trừ nấm bệnh kiểm tra tuyến trùng, rệp sáp và các loại nấm bệnh trước lúc trồng cà phê.

  • Thời gian xử lý đất thích hợp nhất trong mùa khô hoặc thời điểm mưa ít nhất trong năm. Thời gian đào hố, bón lót phải hoàn thành trước thời điểm trồng mới ít nhất 1 tháng.

2.4. Mật độ, khoảng cách trồng

Bảng 1. Mật độ và khoảng cách trồng:

2.5. Đào hố, bón lót

  • Đào hố bằng máy hoặc thủ công. Trên đất dốc, các hàng cần thiết kế theo đường đồng mức, hố đào xen kẽ hình nanh sấu.

  • Thời gian đào hố: Đối với vườn tái canh ngay, đào hố ngay sau khi cày bừa phơi ải xong. Trong trường hợp luân canh, đào hố vào giữa mùa khô để phơi ải lần cuối trước khi trồng.

  • Kích thước hố tối thiểu (dài x rộng x sâu) là: 50 x 50 x 50 cm.

  • Trên đất có độ dốc lớn, hàng được đào theo đường đồng mức, các hàng liền kề lệch hố nhau tạo thành nanh sấu. Khi đào thủ công, đất đào để phía dưới dốc, lớp đất mặt để riêng một phía, sau này trộn với phân hữu cơ, phân lân để đưa xuống hố trồng.

  • Bón lót: Phân chuồng hoai mục, phân lân, vôi trộn đều với đất mặt cho xuống hố. Lượng bón: 5 - 6 kg phân chuồng + 0,3 kg lân nung chảy + 0,3 kg vôi/hố. Những nơi ít phân chuồng bón 1,5 kg phân hữu cơ vi sinh hoặc hữu cơ sinh học + 0,3 kg lân nung chảy + 0,3 kg vôi/hố. Hố lấp âm so với mặt đất từ 5 - 10 cm.

2.6. Tiêu chuẩn cây giống

Cây giống ươm bằng hạt, khi đưa ra trồng phải đạt các tiêu chuẩn sau:

  • Kích thước bầu: 12 - 13 x 22 - 23 cm

  • Tuổi cây: 5 - 6 tháng

  • Số cặp lá thật: 5 - 6 cặp lá

  • Chiều cao cây (kể từ mặt bầu): > 25 cm

  • Thân mọc thẳng đứng

  • Màu lá xanh đậm

  • Đường kính gốc thân: > 3 mm, có một rễ cọc mọc thẳng

  • Cây giống không bị sâu bệnh hại, không bị vàng lá, u sưng rễ, thối rễ

  • Cây giống được huấn luyện ngoài ánh sáng từ 10 - 15 ngày trước khi trồng

2.7. Trồng mới

  • Chuẩn bị trồng: trước khi trồng dùng cuốc móc một lỗ nhỏ ở giữa hố trồng với độ sâu 25 - 30 cm, rộng 20 - 25 cm.

  • Trồng cây:

Dùng dao cắt đáy túi bầu khoảng 1 - 2 cm để loại bỏ phần rễ cọc bị cong ở đáy bầu, rạch 1 đường dọc, xé túi bầu và nhẹ nhàng bóc ra khỏi bầu đất, cắt bỏ rễ ngang mọc vòng quanh bầu. Chú ý thao tác cẩn thận không làm vỡ bầu đất.

Đặt bầu vào hố, điều chỉnh cây thẳng đứng và thẳng hàng, mặt bầu đặt sâu cách mặt đất 5 - 6 cm (ở các tỉnh Tây Nguyên đặt mặt bầu cách mặt đất 10 - 15 cm), lấp đất từ từ, vừa lấp vừa dùng tay nén chặt đất vào thành bầu, sau đó dùng chân nén nhẹ xung quanh. Mỗi hố chỉ trồng một cây.

Trồng dặm kịp thời những cây bị chết, cây yếu, trồng dặm từ đầu mùa mưa và chấm dứt trước kết thúc mùa mưa 1 tháng. Khi trồng dặm chỉ cần móc đất và trồng lại trên hố cũ. Cây giống trồng dặm phải chọn cây tốt đủ tiêu chuẩn.

2.8. Trồng cây đai rừng, cây che bóng, cây trồng xen

a. Cây đai rừng chắn gió

  • Đai rừng chắn gió thẳng góc, hoặc lệch 60° so với hướng gió chính, rộng 6 - 9 m. Khoảng cách đai rừng tùy theo kích thước của khoảnh. Có thể trồng hai hàng cây muồng đen (Cassia seamia Lamk) hàng cách hàng 2 m, cây cách cây 2 m hoặc 3 hàng cây bạch đàn (Eucalyptus sp); keo lá tràm (Acacia auriculiformis), cây keo tai tượng (Acacia mangium) hàng cách hàng 1 m, cây cách cây 1 - 2 m trồng nanh sấu. Ngoài đai rừng chính còn có các đai rừng phụ trồng thẳng góc với đai rừng chính, một hàng cây keo tai tượng, tràm hoa vàng hoặc cây ăn quả.

  • Thiết kế đai rừng kết hợp thiết kế lô khoảnh. Nếu có điều kiện thì trồng đai rừng trước lúc trồng cà phê 1 - 2 tháng. Trên đỉnh đồi nên trồng cây rừng dày để hạn chế xói mòn.

b. Cây che bóng

  • Cây che bóng lâu dài dùng các loại cây sau đây:
  • Cây muồng đen: khoảng cách trồng 24 x 24 m.

  • Cây keo dậu (Leucaena Leucacephala), cây muồng lá nhọn (Cassia tora) khoảng cách trồng 12 x 12 m.

  • Cây mận hậu (phía Bắc): khoảng cách trồng xen 9 x 9 m.

Các loại cây này được gieo trồng vào bầu, khi đạt độ cao 30 - 40 cm mới đem ra trồng. Vị trí trồng cây che bóng là ở trên hàng, giữa hai cây cà phê. Cây che bóng được trồng đồng thời cùng lúc trồng cà phê.

Khi cây che bóng phát triển tốt, phải thường xuyên rong tỉa bớt cành ngang, tán cây che bóng cách tán cà phê ít nhất 2 - 3 m ở thời kỳ đầu và 4 m trở lên ở thời kỳ kinh doanh.

Đối với cà phê trong vườn hộ gia đình, có thể sử dụng một số loại cây ăn quả trồng xen hoặc trồng xung quanh vườn, khoảng cách trồng 9 x 12 m để tăng thu nhập kết hợp làm cây che bóng, cần bón phân đầy đủ và rong tỉa cành ngang, tạo hình thích hợp theo từng loại cây.

  • Cây che bóng tạm thời: Cây cốt khí (Tephrosia candida DC), muồng hoa vàng (Cassia surattensis Burm), đậu công (Flemingia congesta) là những cây che bóng chắn gió tạm thời, thích hợp cho cà phê kiến thiết cơ bản. Hạt gieo vào đầu mùa mưa giữa hai hàng cà phê, khoảng cách 2 - 3 hàng cà phê gieo một hàng cây che bóng, khi cây phát triển tốt, cành chen tán cà phê thì rong tỉa cành lá ép xanh vào gốc cà phê.

c. Cây trồng xen

Vườn cà phê chè trong 3 năm đầu, cây chưa giao tán có thể trồng xen cây đậu đỗ hoặc cây phân xanh họ đậu giữa hai hàng cà phê để tăng thêm thu nhập, bảo vệ cải tạo đất và sử dụng làm vật liệu ép xanh.

Các cây đậu đỗ gieo vào đầu hoặc giữa mùa mưa, phải bón phân và chăm sóc theo yêu cầu của loại cây trồng xen, sau khi thu hoạch xong cần tủ thân lá vào gốc cà phê hoặc đào rãnh vùi vào đất.

Các cây phân xanh họ đậu như muồng hoa vàng, đậu công... gieo vào đầu mùa mưa, khi ra hoa cắt thân lá vùi vào đất, một năm cắt thân lá 2 - 3 lần.

Các cây trồng xen phải cách gốc cà phê 40 - 50 cm, không trồng xen cây cốt khí, ngô, sắn, lúa vào vườn cà phê.

3. Kỹ thuật chăm sóc

3.1. Làm cỏ

Trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, cây cà phê chưa giao tán, chỉ làm cỏ sạch dọc hàng cà phê với chiều rộng lớn hơn tán cà phê, chừa lại băng cỏ giữa hai hàng cà phê để chống xói mòn đất, mỗi năm làm cỏ 4 - 5 lần và phát ngọn cỏ không để cỏ cao bằng cà phê.

Trong giai đoạn kinh doanh cần làm cỏ sạch toàn bộ diện tích, làm 3 - 4 lần trong năm. Tất cả thân lá cỏ và các tàn dư thực vật có trong vườn cà phê đều được chôn vùi vào đất để tăng độ xốp và cung cấp dinh dưỡng cho cây.

3.2. Tạo bồn, tạo bậc thang

Tiến hành tạo bồn trước khi mùa mưa chấm dứt từ 1 - 2 tháng. Bồn được mở theo hàng cà phê, cứ 4 - 6 cây tạo thành 01 bồn, tạo bồn theo hàng vuông góc với hướng dốc để phân bố đều khi tưới nước. Kích thước bồn rộng 0,8 - 1,0 m, sâu 15 - 20 cm, hàng năm bồn được vét bổ sung để đất không lấp bồn. Khi vét đất tạo bồn, cần hạn chế gây tổn thương cho rễ cà phê.

Đất có độ dốc trên 8° cần phải tạo bậc thang dần, được thực hiện từ khi đào hố, chuẩn bị đất trồng và trong suốt quá trình chăm sóc làm cỏ cà phê cho đến khi hình thành bậc thang ổn định. Mỗi lần làm cỏ cần dùng thân cỏ, cành cây cứng,... xếp về phía đất thấp, rồi san dần đất phía trên dốc đưa xuống làm liên tục hai ba năm đầu sẽ thành bậc thang hẹp tương đối hoàn chỉnh.

3.3. Bón phân

Bón phân hữu cơ

Phân chuồng hoai mục được bón định kỳ 2 - 3 năm một lần với lượng 4 - 5 kg/gốc. Nếu không có phân chuồng có thể bổ sung các nguồn phân hữu cơ khác, hoặc bằng vỏ quả cà phê đã ủ hoai mục. Phân hữu cơ vi sinh bón thay phân chuồng với liều lượng 1,5 - 2,0 kg/gốc.

Phân chuồng hoai mục và các loại phân hữu cơ bón theo rãnh vào đầu hay giữa mùa mưa, rãnh đào dọc theo thành bồn, rộng 15 - 20 cm, sâu 20 - 25 cm, đưa phân xuống rãnh, lấp đất. Các năm sau rãnh đào về phía khác.

Bón phân hóa học

  • Liều lượng:

Bảng 2. Yêu cầu lượng phân bón nguyên chất (kg/ha/năm):

Ghi chú: Khi dùng các loại phân đơn hoặc phân hỗn hợp NPK, căn cứ vào tỷ lệ nguyên chất của các loại phân để tính toán đủ lượng bón.

  • Cách bón:
  • Cà phê trồng mới: khoảng 25 - 30 ngày sau khi trồng tiến hành bón thúc phân đạm và kali. Chia đều lượng phân trên bón làm 2 lần trong mùa mưa. Toàn bộ phân lân bón lót bón vào hố trước lúc trồng.

  • Cà phê kinh doanh: 100% phân lân bón lần 1 vào đầu mùa mưa, rải đều xung quanh trong phạm vi tán cà phê. Phân đạm và kali bón 4 lần theo bảng 3.

  • Dùng dạng đạm sunfat amôn để bón lần 1, các tỉnh Tây Nguyên bón lần 2 kết hợp với tưới nước.

Bảng 3. Thời kỳ và tỷ lệ bón phân khoáng trong năm cho các tỉnh phía Nam:

Khi sử dụng phân NPK thay thế phân đơn bón cho cà phê chè, khuyến cáo bón phân NPK 16-16-8-6S ở giai đoạn kiến thiết cơ bản và phân NPK 16-8-16+TE ở giai đoạn kinh doanh. Tỷ lệ bón các đợt tương đương với tỷ lệ bón phân đơn.

Nếu năng suất cao hơn mức bình quân (trên 3,5 tấn nhân/ha), cần bón tăng thêm 70 kg N + 16 kg P2O5 lân nung chảy + 70 kg K2O/ha với mỗi 1,0 tấn nhân tăng thêm.

  • Đối với các tỉnh phía Bắc: Bón phân 2 lần trên năm.

Bảng 4. Thời kỳ và tỷ lệ bón phân khoáng trong năm tại các tỉnh phía Bắc:

Phân bón lá

Sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng S, Mg, Zn, B cao, giàu hữu cơ và axit amin. Phun đều mặt trên và mặt dưới lá vào lúc trời mát và không có mưa. Phun vào các tháng 5, 6, 7 và 8 sau khi mưa dầm hoặc trong giai đoạn hạn tạm thời trong mùa mưa, phun ít nhất 2 lần, cách nhau 25 - 30 ngày.

Phân vi lượng

Định kỳ 2 - 3 năm bón 1 lần bổ sung các loại phân vi lượng chứa Kẽm (Zn) và Bo (B) cho cà phê.

Lượng bón: 20 - 30 kg kẽm sun phát (chứa 21% Zn) và 10 - 15 kg borax (chứa 10% B).

Bón 1 lần vào đầu mùa mưa, kết hợp với bón đạm và kali.

Bón vôi

Ngoài các loại phân hữu cơ và phân hóa học, cần duy trì bón vôi cho vườn cà phê chu kỳ 2 năm một lần, mỗi lần bón 1.200 - 1.500 kg/ha.

Vôi bột không trộn chung với các loại phân bón khác, bón rải đều trên mặt đất vào đầu mùa mưa, trước khi bón các loại phân hóa học ít nhất 10 ngày.

3.4. Tủ gốc, tưới nước

  • Tủ gốc giữ ẩm vườn cà phê chè thời kỳ kiến thiết cơ bản bằng các vật liệu tại chỗ như thân lá, tàn dư cây trồng xen ngắn ngày. Tiến hành vào cuối mùa mưa đến đầu mùa khô.

Bảng 4. Lượng nước và chu kỳ tưới cho cà phê chè:

  • Cà phê chè vùng Tây Nguyên vào mùa khô cần tưới 3 - 4 đợt, mỗi đợt tưới cách nhau 20 - 25 ngày. Cà phê trồng ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ: không cần tưới, những nơi có điều kiện thuận lợi nên tưới vào những thời điểm khô hạn kéo dài.

  • Cà phê chè giai đoạn kinh doanh, đợt tưới đầu thực hiện vào thời điểm mầm hoa đã phát triển đầy đủ (cuối tháng 1).

3.5. Tạo hình, cắt cành

Tạo hình cơ bản

  • Tạo hình đơn thân có hãm ngọn: Nuôi 1 thân/hố, không cần nuôi thêm thân phụ, trừ trường hợp cây bị khuyết tán. Hãm ngọn một lần ở độ cao 1,6 m.

  • Tạo hình đa thân không hãm ngọn: Nuôi thêm 2 - 3 thân mới.

Cắt tỉa cành

Cà phê kinh doanh được cắt tỉa cành 2 lần/năm.

  • Lần thứ nhất: Ngay sau khi thu hoạch, gồm các công việc cắt bỏ cành tăm, cành vòi voi, cành chùm, những cành nhỏ ở phía giáp thân, cành bị sâu bệnh, cành khô, cành thứ cấp mọc hướng vào trong hoặc hướng xuống dưới, cành mọc sát thân chính ở đốt 1, 2, 3 trên cành cơ bản. Tỉa những cành thứ cấp mọc quá dày, cắt ngắn những cành già cỗi không hiệu quả, cắt bỏ cành cơ bản chạm sát mặt đất và cành mọc sát nhau.

  • Lần thứ hai: Vào giữa mùa mưa (tháng 6 và 7), tiến hành tỉa thưa cành thứ cấp mọc ở vị trí không thuận lợi (nằm sâu trong tán lá, mọc thẳng đứng, hướng vào trong, cành tăm, cành yếu, mọc sát thân chính ở đốt 1, 2 trên cành cơ bản, cành chạm đất, bị sâu bệnh) để tán cây được thông thoáng.

  • Cắt chồi vượt: Chồi vượt phải được cắt bỏ thường xuyên trong năm.

3.6. Biện pháp kỹ thuật hạn chế tác hại của sương muối

  • Những vùng thường xuất hiện sương muối cần phải chú ý các biện pháp sau đây:
  • Không trồng cà phê trên các địa bàn có tần suất sương muối dày (dưới 8 năm bị một lần), không trồng cà phê trên các sườn đồi đón gió lạnh và các thung lũng sâu.

  • Vùng trồng cà phê nhất thiết phải có đai rừng chắn gió lạnh, trồng rừng phòng hộ. Được chắn ở phía đón gió và cần phải tạo lập các đai rừng quanh đồi cà phê hoặc các lô khoảnh cà phê.

  • Phải có hệ thống cây che bóng chắn gió tầng cao và tầng thấp ngay trong vườn cà phê, hệ thống này dày hơn các vùng không có sương muối.

  • Che tủ gốc cà phê bằng các tàn dư hữu cơ, các phụ phế phẩm nông nghiệp (thân ngô, rơm rạ,...). Khi có dự báo sương muối nếu có điều kiện thì tưới nước cho cà phê hoặc hun khói ở đầu hướng gió.

  • Khi vườn cà phê bị sương muối thì phải xử lý các biện pháp sau đây:
  • Cưa đốn loại bỏ thân cũ, cưa càng sớm càng tốt, độ cao gốc để lại tái sinh 7 - 10 cm chỉ thực hiện với cà phê kinh doanh và cà phê đang chăm sóc năm thứ 2 trở lên.

  • Bón đều 1.000 kg vôi, 1.000 kg phân lân nung chảy, cuốc, xới xáo sâu 5 - 10 cm toàn bộ mặt đất giữa hai hàng cà phê trộn lấp phân. Gieo trồng xen cây phân xanh họ đậu, đậu đỗ ăn hạt, thân lá vùi ép xanh cho cà phê.

  • Khi chồi cao 20 - 30 cm loại bỏ hết chồi xấu, để lại 3 - 4 chồi to khỏe phân bố quanh gốc và cuối cùng chỉ để một gốc 1 - 2 chồi làm thân chính.

4. Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại

4.1. Sâu hại

4.1.1 Rệp sáp (Pseudococus spp.)

  • Đặc điểm sinh sống và gây hại: Rệp thường gây hại ở chùm quả, lá và hại rễ.
  • Rệp sáp hại lá và chùm quả: rệp bắt đầu đẻ trứng vào đầu mùa mưa ở các kẽ lá, nụ hoặc chùm quả non. Rệp non sau khi nở, nhanh chóng tìm nơi sinh sống cố định. Mùa mưa sinh sản rất nhiều làm quả rụng. Rệp hút chất dinh dưỡng làm cho quả bị vàng, rụng, làm giảm năng suất và chất lượng quả.

  • Rệp sáp hại rễ: Sinh sống ở quanh rễ, dưới đất, tạo ra một lớp bọc không thấm nước ở quanh trục rễ. Những cây bị hại lá vàng, héo và dần dần cây bị chết.

  • Biện pháp phòng trừ: Có thể sử dụng một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất sau để phòng trừ: Cypermethrin; Cypermethrin + Profenofos; Chlorpyrifos Methyl.

4.1.2. Ve sầu

  • Triệu chứng gây hại:
  • Vườn cà phê bị ve sầu gây hại: Cây cằn cọc, lá úa vàng, các cành dinh dưỡng phát triển kém, chồi ngọn và lá ra ít. Nếu bị hại nhẹ cây còn xanh và lá cà phê co lại lên phía trên, nếu bị nặng thì rụng lá và rụng trái xanh. Quả non phát triển chậm, một số bị rụng.

  • Các rễ tơ ở độ sâu 0 - 15 cm phát triển chậm, một số rễ bị đen, thối khô từ đầu rễ vào. Cây không ra rễ non, số lượng rễ tơ giảm rõ rệt.

  • Biện pháp phòng trừ:
  • Biện pháp sinh học: Dùng bẫy đèn thu hút trưởng thành ở giai đoạn vũ hoá rộ (tháng 5 - 9) vào bẫy để tiêu diệt.

  • Biện pháp hóa học: Thường xuyên kiểm tra rễ cà phê, khi phát hiện có nhiều ẩu trùng gây hại cần tiến hành xử lý bằng một trong các loại thuốc chứa hoạt chất: Chlorpyrifos Methyl.

4.1.3. Mọt đục cành (Xyleborus morstatti)

  • Đặc điểm sinh sống và gây hại:
  • Con cái đục vào cành bằng một lỗ nhỏ (1 mm) ở mặt dưới của cành, xâm nhập vào giữa cành, đào một hầm ngầm và đẻ trứng ở đó. Vòng đời của mọt đục cành từ 30 - 35 ngày.

  • Mọt phát triển mạnh vào các tháng 3 - 6 hàng năm, chủ yếu phá hại trên cây cà phê trong thời kỳ kiến thiết cơ bản (2 - 3 năm). Cành bị hại khá rõ rệt, lá có màu nâu sẫm và bị héo rủ nhanh chóng, chết khô trên cây. Chẻ đôi thấy một đoạn cành đã bị mọt đục rỗng ở giữa.

  • Biện pháp phòng trừ:
  • Biện pháp canh tác: Trồng cây che bóng. Nên cắt bỏ phần bị mọt hại và phải đốt tiêu hủy (chú ý phải cắt bỏ đồng loạt).

  • Biện pháp hóa học: Sử dụng một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất sau để phòng trừ: Abamectin; Abamectin + Matrine.

4.1.4. Mọt đục quả (Stephanodres hampei Ferrari)

  • Đặc điểm sinh sống và gây hại: Mọt xuất hiện quanh năm trên vườn. Mọt gây hại trên quả xanh già, quả chín và cả quả khô còn sót trên cây, dưới đất. Mọt còn có thể phá hại quả và nhân khô khi độ ẩm của hạt cao hơn 13%.

  • Biện pháp phòng trừ:

  • Bảo quản cà phê quả khô hay cà phê nhân ở độ ẩm dưới 13%.

  • Thu hoạch kịp thời quả chín vào bất kể thời điểm nào trong năm cũng như nhặt hết quả khô dưới đất, trên cây sau thu hoạch để cắt đứt sự lan truyền của mọt.

  • Trong vùng bị mọt phá hại nhiều có thể dùng một trong các loại thuốc chứa hoạt chất Alpha - cypermethrin phun vào thời kỳ quả già.

Chú ý: chỉ phun trên những cây có mọt và tập trung phun vào các chùm quả.

4.1.5. Rệp muội, rệp vảy nâu, rệp vảy xanh

  • Đặc điểm sinh sống và gây hại:
  • Rệp muội: Hại nhiều loại cây trồng như chè, cà phê, cam quýt..., rệp bám vào các ngọn lá non để hút dịch làm cho lá non cong queo, phát triển không bình thường. Rệp muội phát triển quanh năm nhưng nhiều nhất là khi cà phê ra búp non.

  • Rệp vảy nâu: Trứng nhỏ được đẻ thành ổ ở dưới vỏ của con cái, khi nở rệp chưa có vỏ, màu vàng nhạt hình bầu dục, rệp bám vào cành lá hút dịch cây làm cho cành lá kém phát triển. Rệp thường gây hại vào mùa khô.

  • Rệp vảy xanh: Rệp vảy xanh cũng bám vào lá và cành non để hút dịch cây, làm lá biến vàng.

  • Biện pháp phòng trừ: Có thể sử dụng một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất sau để phòng trừ: Benfuracarb; Alpha-Cypermethrin; Imidacloprid.

4.1.6. Sâu đục thân mình hồng (Zeuzera coffeare)

  • Đặc điểm sinh sống và gây hại:
  • Bướm cái đẻ trứng vào vỏ cây, sâu non đục vào giữa thân cây và đùn mạt gỗ ra ngoài. Cây bị hại dễ bị gãy ngang.

  • Sâu thường phá hại thân, có khi hại cành cấp 1, cấp 2. Sâu có thể phá hại từ cành này sang cành khác, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây thậm chí gây chết cây.

  • Suốt vòng đời của sâu đục vào thân và sống bên trong đó, đến khi trưởng thành bay ra ngoài tìm những nơi cành lá xanh tốt xum xuê để đẻ trứng, trứng được đẻ thành từng ổ ở vỏ cây.

  • Sâu thích hợp ở nhiệt độ 20 - 28°C, dưới 18°C sâu phát triển chậm, sâu thường gây hại ở cây có tán không cân đối, những vườn không có cây che bóng.

  • Biện pháp phòng trừ:
  • Trồng cây che bóng làm giảm cường độ ánh sáng. Tạo hình sửa cành, tạo cho cây có một hình thù cân đối, thân cây được che phủ từ trên xuống dưới.

  • Đối với cây bị hại nặng cần cưa cắt đoạn thân có sâu đem đốt tiêu hủy.

  • Sử dụng một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất sau để phòng trừ: Dimethoate + Fenobucarb; Fenobucarb; Cypermethrin.

4.1.7. Sâu đục thân mình trắng (Xylotrechus quadripes)

  • Đặc điểm sinh sống và gây hại:
  • Cây bị hại, lá non bị hại biến dạng, mép lá hơi xoắn, phiến lá không phẳng phiu, chuyển từ xanh bóng sáng xanh đậm màu.

  • Trên thân, có các vết lằn vòng quanh dưới vỏ cây. Trên cây đã bị sâu xâm nhập và đã vũ hóa bay đi, phát hiện các lỗ nhỏ tròn, toàn bộ cành lá phía trên đều bị vàng úa, cằn cỗi, trong khi các cành phía dưới vẫn xanh tốt. Cây dễ bị gãy gục ở đoạn sâu đục.

  • Khi chẻ thân cây bị đục, trong thân có thể có một hoặc nhiều sâu non.

  • Trưởng thành đẻ trứng vào vết nứt của vỏ thân rải rác hoặc thành từng cụm. Sau khi nở, sâu non đục vào gỗ, rồi đục ngoằn nghèo quanh vòng cây, tiện ngang các mạch gỗ. Sâu đục tới đâu, đùn phân và mạt cưa bít kín đến đó. Khi sắp chuyển thành nhộng, sâu đục ra phía gần vỏ, cho tới khi vỏ sắp thủng thì dừng lại, sâu hóa nhộng ở gần vỏ.

  • Sâu đục thân phát triển quanh năm nhưng có 2 đợt chính vào tháng 4, 5 và 10, 11. Trưởng thành ưa đẻ trứng vào những cây ít cành, thưa lá, chúng hoạt động mạnh khi nhiệt độ cao, ánh sáng nhiều.

  • Vòng đời của sâu đục thân: Biến động từ 135 - 215 ngày.

  • Biện pháp phòng trừ:
  • Trồng cây che bóng làm giảm cường độ ánh sáng. Tạo hình sửa cành, tạo cho cây có một hình thù cân đối, thân cây được che phủ từ trên xuống dưới.

  • Đối với cây bị hại nặng cần cưa cắt đoạn thân có sâu đem đốt tiêu hủy.

  • Sử dụng một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất sau để phòng trừ: Dimethoate + Fenobucarb; Fenobucarb; Cypermethrin.

4.1.8. Bọ xít muỗi (Helopeltis theivora)

  • Đặc điểm sinh sống và gây hại: Bọ xít muỗi dùng vòi chích vào chồi non, lá non, cành non, hoa, quả non để hút nhựa cây. Trên lá non, chồi non vết chích tạo ra đốm đen làm cho lá non, đọt non bị quăn và trở nên méo mó, dị dạng sau đó bị khô từ chóp lá. Hoa bị hại bị héo khô.

  • Biện pháp phòng trừ:

  • Biện pháp canh tác: Đảm bảo mật độ trồng thích hợp, không trồng cà phê quá dày. Thường xuyên tỉa cành, tạo tán thông thoáng cho vườn cà phê. Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại trong ruộng và bờ lô, bụi rậm quanh ruộng nhằm hạn chế nơi cư trú của bọ xít muỗi. Bón phân đầy đủ, cân đối, hạn chế bón quá nhiều đạm, tăng cường bón thêm kali.

  • Biện pháp vật lý: Vào đầu mùa khô thu gom tàn dư cây trồng, đốt hun khói để xua đuổi bọ xít muỗi.

  • Biện pháp sinh học: Bảo vệ và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên sẵn có trên vườn cà phê: kiến đen, kiến xanh, kiến vàng để hạn chế gây hại của bọ xít muỗi.

  • Biện pháp hóa học: Thường xuyên điều tra đồng ruộng vào thời kỳ cà phê ra đọt non, lá non để phát hiện kịp thời, phun thuốc trừ từ 1 - 2 đợt mỗi đợt cách nhau 10 - 15 ngày.

Hiện nay chưa có thuốc đăng ký trong danh mục để phòng trừ bọ xít muỗi hại cà phê. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật đăng ký trên các cây công nghiệp khác như:

Sử dụng các loại thuốc sinh học có chứa các hoạt chất sau: Abamectin; Abamectin + Azadirachtin; Abamectin + Matrine; Azadirachtin; Bacillus thuringiensis var. kurstaki; Emamectin benzoate; Emamectin benzoate + Matrine...

Các loại thuốc hóa học có chứa các hoạt chất sau: Alpha-cypermethrin; Cypermethrin; Permethrin...

4.1.9. Mối (Subterranean termite)

  • Đặc điểm sinh sống và gây hại: Mối sống quần thể trong tổ ngầm sâu dưới mặt đất có khi sâu tới 2 - 3 m. Mối gặm rễ cây và biểu bì thân cây, chui vào các vết nứt rồi đục vào trong thân cây làm cho thân hoặc cành bị gãy. Cây bị mối hại nặng, lá chuyển màu vàng úa, sau đó rụng, cây dần dần bị chết khô. Khi nhổ cây lên thấy rễ bị mối gặm trụi chỉ còn trợ lại 1 đoạn rễ trụ. Mưa nhiều hoặc quá nắng mối ít gây hại. Trên đồi cà phê, mối phá hại nhiều ở chân đồi, càng lên cao càng giảm tác hại.

  • Biện pháp phòng trừ:

  • Trước khi trồng, cần làm đất kỹ, dọn sạch tàn dư gốc rễ cây trồng vụ trước.

  • Thường xuyên thu dọn tàn dư cây trồng xen và thân lá khô để làm giảm nguồn thức ăn của mối.

  • Xử lý mặt đất và hố trồng bằng một trong các loại thuốc chứa hoạt chất: Alpha-cypermethrin.

4.2. Bệnh hại

4.2.1. Bệnh vàng lá, thối rễ (Fusarium root rot disease)

  • Triệu chứng và tác nhân gây hại:

Triệu chứng: Bệnh vàng lá thối rễ có thể gây hại từ cây cà phê trong vườn ươm cho đến cà phê trưởng thành. Triệu chứng chung trên rễ của cây bị bệnh là rễ có các vệt thối đen hoặc rễ có những nốt sưng từ nhỏ tới lớn. Trên cà phê kiến thiết cơ bản cây có triệu chứng sinh trưởng kém, lá vàng úa và khô đầu lá, thối rễ cọc, cây thường bị nghiêng trong mùa mưa và rất dễ nhổ lên bằng tay. Trên cà phê kinh doanh, cây sinh trưởng chậm, có ít cành thứ cấp, lá chuyển sang màu vàng, rễ tơ bị thối.

Tác nhân: Bệnh vàng lá thối rễ cà phê được xác định nguyên nhân là do tuyến trùng (Pratylenchus coffeae, Pratylenchus spp., Meloidogyne sp.,...) và nấm ký sinh gây bệnh (Fusarium solani, Fusarium oxysporum, Rhizoctonia solani...) gây ra. Các vết thương hay nốt sưng trên rễ do tuyến trùng gây ra sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các loài nấm ký sinh gây bệnh tấn công làm thối rễ cà phê.

  • Sự phát sinh, phát triển gây hại của bệnh: Bệnh vàng lá thối rễ phát sinh gây hại nặng vào thời điểm cuối mùa khô đầu mùa mưa hàng năm. Cây cà phê trong vườn ươm thường xuất hiện bệnh gây hại ở giai đoạn 3 - 4 tháng tuổi. Các loài tuyến trùng ký sinh gây hại cà phê chủ yếu sống trong đất và rễ cây. Trứng của tuyến trùng có thể tồn tại rất lâu trong đất khi gặp điều kiện không thuận lợi. Ẩm độ đất cao tạo điều kiện thuận lợi cho tuyến trùng phát triển mạnh. Tuy nhiên, đất quá khô hay quá ẩm cũng làm chết tuyến trùng. Đa số tuyến trùng chết ở nhiệt độ 50 - 55°C. Tưới tràn làm tuyến trùng lây lan nhanh, khó kiểm soát.

  • Biện pháp phòng trừ:

  • Làm đất: Sau khi nhổ bỏ cà phê phải cày rà, thu gom rễ và tiêu hủy.

  • Khi làm vườn ươm không sử dụng đất có nguồn tuyến trùng để ươm cây giống. Đất ươm cây giống cà phê cần được xử lý bằng nhiệt (phơi, phủ nilon...) hoặc thuốc sinh học, hóa học.

  • Trồng cây cà phê giống khỏe mạnh và sạch nguồn tuyến trùng ký sinh. Đối với những vườn ươm đã sản xuất cây giống cà phê nhiều năm (trên 2 năm) cần phòng trừ bệnh hại rễ do tuyến trùng và nấm gây hại trên cây giống trong bầu bằng cách dùng một trong các loại thuốc phòng trừ tuyến trùng sinh học chứa các hoạt chất sau: Abamectin, Chitosan, Clinoptilolite, Cytokinin, Paecilomyces lilacinus, Tinh dầu quế... Sau đó sử dụng thuốc trừ nấm sinh học Chaetomium cupreum, Trichoderma spp., Trichoderma viride... nồng độ sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì. Xử lý 2 - 3 lần, cách nhau 1 tháng, lần đầu trước khi xuất vườn 2 - 3 tháng.

  • Sau khi trồng, bón phân đầy đủ, cân đối đồng thời tăng cường bón phân hữu cơ, phân bón lá, đặc biệt đối với các vườn liên tục cho năng suất cao.

  • Hạn chế xới xáo trong vườn cây bị bệnh để tránh làm tổn thương bộ rễ.

  • Không sử dụng biện pháp tưới tràn.

  • Thường xuyên kiểm tra vườn cây để phát hiện kịp thời cây bị bệnh để có biện pháp xử lý sớm và hợp lý.

  • Khi phát hiện cây bệnh, tiến hành xử lý cây bệnh và cây xung quanh vùng bệnh, sử dụng thuốc trừ tuyến trùng kết hợp với thuốc trừ nấm. Trường hợp bệnh nhẹ, nên sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học, nếu vườn bị bệnh nặng, cần sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ.

  • Thuốc sinh học: Sử dụng một trong các loại thuốc sinh học trừ tuyến trùng có các hoạt chất như Abamectin, Clinoptilolite, Chitosan, Cytokinin, Paecilomyces lilacinus... Sau đó tiến hành xử lý thuốc sinh học trừ nấm có hoạt chất như Chaetomium cupreum; Trichoderma spp.; Trichoderma viride...

  • Thuốc hóa học: Sử dụng một trong các loại thuốc hóa học trừ tuyến trùng có các hoạt chất như Abamectin + Thiamethoxam, Benfuracarb... Sau đó xử lý thuốc hóa học trừ nấm bệnh chứa các hoạt chất như Copper Hydroxide, Cuprous Oxide.

Xử lý các loại thuốc hóa học để phòng trị tuyến trùng và trị nấm theo khuyến cáo trên với lượng dung dịch thuốc tưới khoảng 2 - 4 lít/gốc cà phê (tùy thuộc vào độ tuổi của cây cà phê), nếu thuốc trị tuyến trùng bằng hạt thì rải 20 - 50 g thuốc hạt hố trồng cà phê, rải quanh mép tán cà phê.

  • Trường hợp vườn cà phê tái canh có cây bị bệnh nặng cấp 3, 4 khó phục hồi cần nhổ bỏ, để đất nghỉ, sau đó xử lý chế phẩm sinh học để trồng dặm lại.

4.2.2. Bệnh gỉ sắt (leaf rust disease)

  • Triệu chứng và tác nhân gây hại: Bệnh do nấm Hemileia vastatrix Berkeley & Broome gây nên. Bệnh thường xuất hiện vào đầu mùa mưa và phát triển mạnh nhất vào cuối mùa mưa. Tác hại của bệnh là làm rụng lá, làm cho cây suy yếu, năng suất thấp. Nếu bị nặng cây có thể bị chết.

  • Biện pháp phòng trừ:

  • Dòng TN10 77-37 là dòng có khả năng kháng bệnh gỉ sắt cao, do đó hiện chưa thấy phát sinh bệnh gỉ sắt gây hại cho cây. Tuy nhiên, để phòng ngừa bệnh gỉ sắt phát sinh khi sản xuất giống trên diện rộng, có thể sử dụng biện pháp sinh học để kiểm soát.

  • Biện pháp sinh học: Tạo điều kiện để nấm ký sinh bậc 2 (ký sinh nấm bệnh gỉ sắt) Verticillium hemileiae phát triển, sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma viride...

4.2.3. Bệnh lở cổ rễ

  • Triệu chứng và tác nhân gây hại:

Tác nhân: Nấm ký sinh gây bệnh là nấm Rhizoctonia solani.

Triệu chứng: Bệnh lở cổ rễ xuất hiện và gây hại nhiều trên cây cà phê trong vườn ươm và cà phê KTCB. Triệu chứng điển hình của bệnh là phần cổ rễ cây cà phê thường bị thối đen và thắt lại, cây héo rũ - chết.

  • Sự phát sinh, phát triển gây hại của bệnh: Trong vườn ươm cây giống, bệnh thường xuất hiện và gây hại nặng ở vườn ươm có ẩm độ đất cao, ít thông thoáng, đất trong bầu bị dí chặt và nhiều cỏ dại. Trên đồng ruộng, bệnh thường xuất hiện và gây hại nặng trong mùa mưa (tháng 5 - 10), ở những vùng trồng cà phê trũng, ẩm thấp, đất ít được xới xáo. Nguồn bệnh có thể bắt đầu từ các cây con đã bị bệnh trong vườn ươm hoặc từ đất trồng. Cà phê trồng trên đất pha cát dễ bị nhiễm bệnh hơn trên đất đỏ bazan. Cà phê chè mẫn cảm với nấm bệnh này hơn cà phê vối và cà phê mít.

  • Biện pháp phòng trừ:

Trong vườn ươm cần phải lưu ý một số biện pháp kỹ thuật như: Không nên tưới nước quá ẩm, không che vườn ươm quá dày, dùng lưới che 50% ánh sáng. Xới xáo bằng việc bóp bầu, luân chuyển bầu để tạo thông thoáng trong bầu. Kiểm tra và nhổ bỏ sớm các cây bị nhiễm bệnh. Sử dụng thuốc sinh học, hóa học phòng trừ tuyến trùng, sau đó sẽ sử dụng thuốc phòng trừ nấm bệnh sinh học, hóa học tương tự như khuyến cáo với bệnh vàng lá, thối rễ.

Trên đồng ruộng cần áp dụng một số biện pháp kỹ thuật canh tác như sau: Chọn vùng đất trồng cà phê phải có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp. Sử dụng cây giống tốt không có triệu chứng của bệnh lở cổ rễ. Tránh tạo vết thương trên phần gốc cây trong quá trình làm cỏ và đánh chồi vượt sát gốc. Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên để phát hiện cây vừa chớm bị bệnh và tưới thuốc hóa học như trên để phục hồi cây.

  • Thuốc hóa học: Sử dụng một trong các loại thuốc hóa học trừ bệnh lở cổ rễ có các hoạt chất như Difenoconazole + Propiconazole ...

4.2.4. Bệnh khô cành khô quả

  • Triệu chứng gây hại: Bệnh gây hại trên lá, quả, cành cà phê.
  • Trên lá: Bệnh xâm nhập vào đầu lá hay phiến lá, triệu chứng ban đầu là những vết loang lổ màu nâu có nhiều vòng đồng tâm, sau đó lan rộng ra chuyển sang màu nâu sẫm hay nâu đen. Các vết bệnh xuất hiện nhiều liên kết với nhau thành từng mảng lớn làm cho lá bị khô rụng.

  • Trên cành: Bệnh tấn công lên cành ở các giai đoạn cành đang hóa gỗ và xâm nhập vào đầu cành mang quả. Trên cành có những vết nâu lõm xuống làm vỏ biến màu nâu đen và khô dần. Khi bệnh nặng, nấm xâm nhập và gây hại cả cành lớn và lan đến thân làm rụng lá và cành trơ trụi khô đen.

  • Trên quả: Nấm tấn công vào giai đoạn quả thành thục 6 - 7 tháng. Vết bệnh là những đốm nâu lõm vào phần vỏ quả có kích thước và hình thù khác nhau. Bệnh xuất hiện bắt đầu từ cuống quả hay tại điểm tiếp xúc giữa hai quả, những nơi mà nước có thể đọng lại.

  • Bệnh nặng làm lá, cành, quả khô đen và rụng làm cành trơ trụi.

  • Biện pháp phòng trừ:
  • Biện pháp canh tác: Bón phân đầy đủ và hợp lý cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây. Có thể dùng cây che bóng. Cắt và gom những đoạn cành bị bệnh đốt tiêu hủy.

  • Biện pháp hóa học: Sử dụng một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất sau: Propineb; Mancozeb; Hexaconazole; Validamycin.

Đối với cây bị hại nhẹ, luân phiên sử dụng một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất sau để phòng trừ: Dẫn xuất Salicylic Acid; Trichoderma viride; Validamicin.

Đối với những cây bị hại nặng cần nhổ bỏ và đốt tiêu hủy, sau đó xử lý hố trước khi trồng lại bằng cách bón vôi 1 kg/hố trước khi trồng 15 ngày.

4.2.5. Bệnh nấm hồng

  • Triệu chứng gây hại:
  • Bệnh phát sinh ở trên cành, gần nơi phân cành tạo ra vết bệnh màu phớt hồng, lúc đầu nhẵn sau dầy lên và màu hồng càng rõ, trên mặt có lớp bột màu hồng nhạt mịn, đó là các bào tử của nấm.

  • Vết bệnh phát triển chạy dài dọc theo cành và dần dần bọc hết chu vi cành, làm lá bị vàng, quả bị rụng non và cành chết khô.

  • Biện pháp phòng trừ:
  • Biện pháp canh tác: Cắt tỉa, tạo tán hợp lý làm cho vườn cà phê được thông thoáng.

  • Biện pháp hóa học: Khi bệnh hại nặng cần cắt bỏ những đoạn cành bị bệnh đốt tiêu hủy kết hợp phun một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất sau: Validamycin; Copper Hydroxide; Eugenol; Hexaconazole + Propineb; Azoxystrobin + Hexaconazole.

4.2.6. Bệnh thối nứt thân

  • Triệu chứng gây hại: Bệnh thối nứt thân thường xuất hiện gây hại nặng trên các vườn cà phê kinh doanh không thông thoáng, ẩm thấp, độ ẩm không khí cao trong các tháng mùa mưa. Nấm bệnh phát triển và gây hại nặng trong tháng 5 - 9 hàng năm.

  • Biện pháp phòng trừ:

  • Áp dụng tốt các biện pháp cắt cành, rong tỉa cây che bóng - chắn gió, làm cỏ... để vườn cây thông thoáng hạn chế nấm bệnh phát triển. Đầu mùa mưa hàng năm (tháng 4 - 5) nên áp dụng biện pháp quét vôi lên thân cây cà phê cách mặt đất 40 - 60 cm để phòng tránh bệnh phát triển và lây lan. Một số chế phẩm sinh học của nấm Trichoderma cũng có thể được dùng để phun lên thân cây vào đầu mùa mưa để phòng tránh bệnh phát triển và lây lan.

  • Kiểm tra vườn cây thường xuyên để phát hiện bệnh sớm. Nếu thấy có các vết thối trên thân dễ bóc vỏ khỏi thân gỗ thì phải tiến hành cạo sạch phần vỏ thân bị bệnh thu gom - tiêu hủy và quét thuốc hóa học lên vết cạo để phục hồi cây. Nên dùng một trong các loại thuốc hóa học có các hoạt chất như Copper Hydroxide, Cuprous Oxide.

4.2.7. Bệnh đốm mắt cua (Brown eyespot disease)

  • Triệu chứng gây hại: Bệnh do nấm Cercospora coffeicola gây ra trong điều kiện cây bị suy yếu do thiếu dinh dưỡng. Gây hại trên lá, quả, cành. Cây bị bệnh nặng thường cằn cỗi, chậm phát triển, lá vàng và rụng, quả vàng và chín ép. Vết bệnh trên lá và quả thường có hình tròn, trong có nhiều vòng đồng tâm, chính giữa màu xám có các chấm đen nhỏ, xung quanh màu nâu đỏ, ngoài cùng vàng. Trên cành, vết bệnh chạy dọc theo chiều dài cành. Quả bị nấm gây hại nặng có thể bị thối đen từng phần hoặc toàn bộ. Bệnh xuất hiện phổ biến trong vườn ươm và thời gian kiến thiết cơ bản. Bệnh phát triển quanh năm đặc biệt là trên các vườn chăm sóc kém, thiếu phân bón hoặc trồng trên đất xấu.

  • Biện pháp phòng trừ:

  • Biện pháp canh tác: Có thể trồng cây che bóng, bón phân đầy đủ và hợp lý để cây có đủ sức kháng bệnh.

  • Biện pháp hóa học: Sử dụng một trong các loại thuốc chứa các hoạt chất Hexaconazole; Difenoconazole + Propiconazole ...

5. Kỹ thuật thu hoạch

5.1. Cách xác định thời điểm thu hoạch phù hợp

Thời điểm thu hoạch được xác định:

Thời điểm thu hoạch thường được xác định thông qua tỷ lệ quả chín trên vườn.

Thông thường trong một vụ được thu hái 3 đợt:

  • Đợt 1 khi vườn cây có 20 - 25% quả chín;

  • Đợt 2 khi chín rộ (trên 50% quả chín);

  • Đợt 3 sau đợt 2 khoảng 20 ngày.

5.2. Dụng cụ thu hái

Bao chứa quả phải sạch sẽ, chắc chắn, tránh rơi vãi sản phẩm trong quá trình vận chuyển, được vệ sinh sạch sẽ trước và sau mỗi đợt thu hoạch.

Sử dụng bạt để thu hoạch có kích thước đủ lớn để phủ hết bề mặt đất dưới tán cây và được làm bằng các vật liệu không thấm nước.

Thúng, rổ hỗ trợ cho loại bỏ tạp chất và dồn quả vào bao.

5.3. Kỹ thuật thu hoạch

Phương pháp hái: (1) Hái chọn: chỉ dùng các ngón tay lựa các quả chín để hái, chừa lại quả xanh trên cành. (2) Hái tuốt: dùng bàn tay tuốt tất cả các chùm quả từ gốc cành ra phía ngọn cành. (3) Hái tuốt chọn: gần giống hái tuốt nhưng khi tuốt chú ý chỉ dùng bàn tay vặn những chùm có nhiều quả chín, chừa lại quả xanh trong chùm và trên cành, phải ngừng thu hái trước và sau khi hoa nở 3 - 5 ngày.

Các yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp thu hái:

Phương pháp chế biến: Quả để chế biến ướt cần hái chọn hoặc tuốt chọn. Quả để chế biến khô có thể hái tuốt, tuy nhiên nên tuốt chọn để tỷ lệ quả chín càng nhiều càng tốt.

Khả năng phân loại quả sau thu hái: Nếu có quá trình phân loại quả xanh trước khi chế biến ướt thì có thể áp dụng cách tuốt hoặc tuốt chọn.

5.4. Yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm thu hoạch

Sản phẩm thu hoạch có tỷ lệ quả chín đạt từ 95% trở lên (bao gồm cả quả chín vàng và chín đỏ) và tỷ lệ tạp chất không quá 0,5%. Đợt tận thu cuối vụ, tỷ lệ quả chín đạt trên 85%, tạp chất không quá 1% và không chiếm quá 10% tổng sản lượng toàn vụ.

5.5. Bảo quản cà phê tươi

Cà phê quả sau khi thu hoạch phải được chuyên chở kịp thời về cơ sở chế biến. Nếu chế biến ướt không để quả quá 24 giờ. Nếu chế biến khô không để quả 48 giờ, phơi trên sân bê tông hoặc sân đất nện, vải bạt, độ dày không quá 40 cm và thường xuyên cào đảo, phải có phương tiện che mưa.

Phương tiện vận chuyển và bao bì đựng cà phê quả phải sạch, không nhiễm phân bón, hóa chất... Trường hợp không vận chuyển hay chế biến kịp thời cà phê phải được đổ trên nền khô ráo, thoáng mát và không được đổ đống dày quá 30 cm và phải cào đảo thường xuyên. Trong trường hợp này cũng không nên lưu giữ quả quá 36 tiếng.

6. Kỹ thuật sơ chế, bảo quản sản phẩm

6.1. Sơ chế cà phê

6.1.1. Phương pháp sơ chế khô

  • Chuẩn bị nguyên liệu: Không cần phân loại riêng quả khô, quả chín và quả xanh, nhưng cần tách tạp chất trước khi chế biến.

Xát dập quả trước khi phơi: Để phơi cà phê nhanh khô hơn, có thể xát dập quả trước khi phơi. Chất lượng cà phê xát dập không cao, vì vậy nên hạn chế áp dụng.

  • Phơi cà phê:
  • Chuẩn bị sân phơi;

  • Thực hiện phơi;

  • Sấy cà phê: Chỉ thực hiện sấy quả tươi khi điều kiện không thể phơi được.

6.1.2. Phương pháp sơ chế ướt

Quy trình gồm 4 công đoạn: Làm sạch và phân loại, tách vỏ quả, tách nhớt, phơi sấy cà phê.

  • Làm sạch và phân loại: Có thể thực hiện bằng tay, sàng phân loại, bể siphon, máy rửa và phân loại và máy xát có bộ phận tách quả xanh.

Yêu cầu cà phê để chế biến ướt phải đạt tỉ lệ quả chín >95%, tỉ lệ tạp chất <0,5%.

Trong trường hợp hái chọn, tỉ lệ quả chín đạt trên 95% và không có tạp chất thì có thể đem quả chế biến ngay, bỏ qua khâu phân loại.

  • Xát vỏ quả tươi

  • Loại bỏ lớp nhớt: có ba phương pháp:

  • Phương pháp lên men tự nhiên: Cà phê thóc được dẫn tới bể lên men đã rút hết nước. Chiều dày lớp hạt <= 60 cm. Ủ cà phê 8 - 36 giờ, tới khi lớp nhớt phân hủy hết.

  • Phương pháp cơ học;

  • Phương pháp sử dụng enzyme (còn gọi là men).

  • Phơi sấy cà phê:
  • Phơi đến khi hạt cà phê đạt ẩm độ 12 - 13%, đưa vào kho bảo quản.

  • Sấy cơ giới: Gồm làm ráo vỏ bằng máy sấy tĩnh, sau đó sấy bằng máy sấy tháp hoặc máy sấy trống.

Giai đoạn cuối cứ 30 phút lấy mẫu một lần để kiểm tra ẩm độ cà phê. Khi ẩm độ nhân còn 13,5 - 14% thì có thể kết thúc sấy.

Khi xả nếu cà phê vẫn còn nóng thì sẽ tiếp tục khô, vì vậy tại lúc xả, ẩm độ hạt được phép cao hơn 12,5% một chút.

Tốt nhất sấy cà phê đã phơi ráo vỏ (đã mất 1/3 lượng nước).

  • Sử dụng hệ thống năng lượng mặt trời (Solar-drier).

6.2. Bảo quản cà phê

6.2.1. Kỹ thuật bảo quản

  • Với cà phê chè, chỉ nên bảo quản cà phê thóc hoặc cà phê quả khô. Chỉ xay xát loại bỏ vỏ quả hoặc vỏ thóc trước khi bán.

  • Sau khi xay ra nhân, cà phê nhân đóng trong các bao không quá căng. Sau khi đóng bao cần vận chuyển ngay vào kho.

  • Đặt các bao cà phê trên các giá gỗ cứng cáp, cách biệt nền nhà và cách tường tối thiểu 50 cm.

  • Mỗi loại sản phẩm (cà phê thóc, cà phê quả, cà phê nhân) cần đặt ở khu vực riêng tránh bị lẫn.

  • Điều chỉnh cửa kho sao cho kho luôn thông thoáng, không bị tụ sương, nhưng cũng không quá trống trải khi thời tiết bất thuận.

  • Thường xuyên kiểm tra chim, chuột, côn trùng và loại gây hại khác, nếu xuất hiện trong kho cần có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

  • Định kỳ vệ sinh để kho luôn sạch sẽ và khô ráo.

  • Khi xuất bán: nhập trước xuất trước, nhập sau xuất sau.

6.2.2. Thời gian bảo quản

  • Không nên bảo quản cà phê nhân quá một năm.

  • Vùng nóng và mưa nhiều thời gian bảo quản cần ngắn hơn.