🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Vật tư nông nghiệp

Sửa đổi luật về thuốc bảo vệ thực vật: Từ góc nhìn thị trường

Cập nhật: Báo Nông nghiệp và Môi trường
Sửa đổi luật về thuốc bảo vệ thực vật: Từ góc nhìn thị trường

Sửa đổi luật về thuốc bảo vệ thực vật: Từ góc nhìn thị trường

Ngày 24/8, Quốc hội thông qua “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường”.

Đón nhận tín hiệu tích cực này, Hội Sản xuất và Kinh doanh thuốc BVTV Việt Nam (VIPA) đã tổ chức hội nghị, gặp gỡ các nhà khoa học, doanh nghiệp và hiệp hội, trao đổi sâu hơn về những thay đổi cần thiết đối với luật liên quan trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật.

Dựa vào các ý kiến chính của hội viên, VIPA đưa thêm một số ý kiến đề nghị các cơ quan có chức năng nghiên cứu sửa đổi "Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật", cụ thể chỉnh sửa Điều 50 của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật vào tháng 10/2025 và tập trung kiến nghị vào các nội dung sau.

Cần được đăng ký thuốc thành phẩm độc lập

Kiến nghị đầu tiên VIPA đưa ra là cho phép các doanh nghiệp Việt Nam được đăng ký thuốc bảo vệ thực vật là* "thuốc thành phẩm", *chứ không phải là "thuốc thành phẩm từ thuốc kỹ thuật" như hiện hành.

Lý do là quy định trên không còn phù hợp với thực tiễn quản lý thuốc BVTV tại Việt Nam. Hiện nay, theo quy định quản lý thuốc BVTV Việt Nam, chỉ có đăng ký và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật thành phẩm, không có đăng ký riêng cho hoạt chất hoặc thuốc kỹ thuật. Giấy chứng nhận đăng ký cũng chỉ cấp cho thuốc thành phẩm.

Việc sản xuất, kinh doanh và quản lý chất lượng đều căn cứ trên thuốc thành phẩm. Do đó, nhà sản xuất thuốc BVTV thành phẩm là chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với các sản phẩm đã lưu hành tại Việt Nam. Điều này hoàn toàn phù hợp với các quy định tại Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT về quản lý thuốc bảo vệ thực vật.

Xét rộng ra, quy định "thuốc thành phẩm từ thuốc kỹ thuật" cũng không phù hợp với thông lệ quốc tế do hiện nay nhiều quốc gia áp dụng hệ thống quản lý theo hai cấp: "Đăng ký hoạt chất và thuốc kỹ thuật" và "Đăng ký thuốc thành phẩm".

Ví dụ, Đức, Hàn Quốc đều có hệ thống phân định rõ ràng và cho phép đăng ký thuốc thành phẩm độc lập. Vì vậy, quy định nhà sản xuất thuốc thành phẩm phải sản xuất *"từ thuốc kỹ thuật" *là một rào cản không phù hợp dẫn đến gây khó khăn, hạn chế quyền đăng ký của các nhà sản xuất thuốc BVTV thành phẩm (đối tượng chịu trách nhiệm thực tế và pháp lý tại Việt Nam).

Bên cạnh đó, quy định nhà sản xuất thuốc thành phẩm phải sản xuất *"từ thuốc kỹ thuật" *còn không bảo đảm công bằng và quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp.

Nguyên nhân do nhiều nhà sản xuất thuốc BVTV thành phẩm trên thế giới không trực tiếp sản xuất thuốc kỹ thuật mà mua từ các nhà cung cấp thuốc BVTV đạt chuẩn. Việc yêu cầu họ phải là nhà sản xuất thuốc kỹ thuật hoặc "từ thuốc kỹ thuật" là không đúng với thực tế, dẫn đến phụ thuộc vào bên thứ ba và không phản ánh đúng bản chất hoạt động của doanh nghiệp.

Ngoài lĩnh vực BVTV, quy định này cũng không phù hợp với các ngành kinh doanh có điều kiện khác như ngành dược, nơi cho phép các nhà sản xuất thành phẩm được đăng ký lưu hành sản phẩm khi đáp ứng điều kiện pháp lý, không yêu cầu họ phải sản xuất hoạt chất.

Một điểm cần lưu ý nữa, là quy định này còn gây ảnh hưởng tiêu cực do áp dụng nguyên tắc "một nhà sản xuất - một đăng ký". Nguyên tắc "một nhà sản xuất – một đăng ký" được quy định tại Điều 5 khoản 2, 3, 4 của Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT đã gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong các trường hợp một nhà sản xuất hoạt chất có nhiều khách hàng độc lập là nhà sản xuất thành phẩm. Khi đó, các bên sẽ không thể cùng đăng ký các công thức khác nhau, nhất là hỗn hợp thuốc BVTV, có sử dụng chung nguồn hoạt chất hoặc thuốc kỹ thuật.

Xem xét quy định "Một sinh vật gây hại - Một loại cây trồng"

Thực hiện chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định kinh doanh, tạo thuận lợi, tiết giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp, thời hạn lưu hành của một sản phẩm thuốc BVTV mới đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chính thức được nâng lên mức 10 năm thay vì mức 05 năm như quy định trước đây, là những kết quả bước đầu rất tích cực.

Tuy nhiên, về thủ tục đăng ký một sản phẩm thuốc BVTV mới vẫn còn những vấn đề cần được xem xét thêm, gỡ bỏ rào cản thực tế, gây lãng phí thời gian và tăng chi phí cho doanh nghiệp.

Theo quy định hiện hành, việc đăng ký và khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật theo cặp "sinh vật gây hại - cây trồng", tại Điều 19 của Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT do Bộ NN-PTNT (Nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) ban hành, quy định: "Khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật đối với 01 đối tượng sinh vật gây hại trên 01 đối tượng cây trồng nhằm mục đích đăng ký" vào Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam.

Đối với trường hợp một đối tượng sinh vật gây hại xuất hiện trên nhiều loại cây trồng, doanh nghiệp vẫn bắt buộc phải tách riêng từng bộ hồ sơ khảo nghiệm cho từng cây trồng cụ thể chứ không được gom chung vào một lần đăng ký đầu tiên.

Vấn đề này, về mặt cơ sở lý luận và thực tiễn cần được xem xét thêm để có những quy định hợp lý, giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp.

Dưới đây là phân tích chi tiết để trả lời cho câu hỏi có nên duy trì quy định này hay không.

Về* đối tượng sinh vật gây hại thực vật* . **Sâu hại có thể hại cây theo các phương thức. Sinh vật gây bệnh hại cây có thể gây ra nhiều loại triệu chứng khác nhau biểu hiện ra bên ngoài tùy thuộc vào tác nhân gây bệnh và bộ phận của cây bị tổn thương.

** Về khả năng gây hại thực vật. **Một đối tượng sinh vật gây hại thực vật không nhất thiết chỉ gây hại cho một loại cây trồng (chuyên tính) mà tùy từng loài, chúng có thể gây hại cho một số loại cây trồng, thậm chí có thể ký sinh gây hại nhiều loại cây trồng (đa thực).

Có thể thấy, sinh vật gây hại thực vật rất phong phú và đa dạng. Một loại sinh vật gây hại có thể ký sinh gây hại cho nhiều loại cây trồng khác nhau.

Trong hệ sinh thái, một cây trồng cũng có thể bị một hoặc một số loại sinh vật gây hại. Về tập tính sinh sống và gây hại của sinh vật gây hại các cây trồng đều mang đặc tính chung.

Hiện nay, để đăng ký một loại thuốc BVTV mới vào danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam kể từ khi tiến hành các thủ tục về hồ sơ, thực hiện đầy đủ các quy trình khảo nghiệm, tổ chức Hội đồng khoa học đánh giá đến khi được cấp giấy phép lưu hành với tổng thời gian từ 2,5 năm đến 3 năm. Kinh phí thực hiện khoảng trên dưới 200 triệu đồng.

Từ thực trạng trên, đề nghị cơ quan quản lý xem xét quy định đăng ký thuốc bảo vệ thực vật mới theo cặp "Một sinh vật gây hại - Một loại cây trồng" chỉnh sửa thành đăng ký thuốc bảo vệ thực vật mới theo "Một sinh vật gây hại - Nhóm cây trồng".

Khi quy định này được sửa đổi, sẽ cắt giảm về mặt thủ tục, thời gian và kinh phí cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tập trung vào các hoạt động khác tạo động lực để phát triển đóng góp nhiều hơn cho xã hội.

Đề nghị xem xét vai trò của Văn phòng đại diện

Hiện nay, quy định tổ chức nước ngoài chỉ có văn phòng đại diện tại Việt Nam là được quyền đăng ký thuốc BVTV không còn phù hợp với thực tế sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV tại Việt Nam. Do đó, VIPA kiến nghị cần xem xét bỏ cụm từ "Văn phòng đại diện" tại khoản 2 Điều 50 hoặc thay thế bằng cụm từ khác chuẩn xác hơn vì những lý do sau.

Trên thực tế, việc đăng ký thuốc BVTV là nhằm mục đích để sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam. Trong khi đó, tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ có văn phòng đại diện lại không có chức năng sản xuất kinh doanh, không thực hiện nghĩa vụ tài chính (đóng thuế) liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam dẫn đến Nhà nước thất thu thuế.

Việc doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài chỉ cần có Văn phòng đại diện được phép đăng ký thuốc BVTV tại Việt Nam sẽ gây ra tình trạng khó quản lý, khó xử lý về trách nhiệm pháp lý của nhà sản xuất đối với trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài không đăng ký sản xuất kinh doanh tại Việt Nam có vi phạm về chất lượng thuốc BVTV và an toàn sản phẩm trong quá trình lưu hành sản phẩm tại Việt Nam.

Đặc biệt, do doanh nghiệp nước ngoài có thể lợi dụng hình thức chỉ cần có "văn phòng đại diện" đăng ký để né tránh các trách nhiệm pháp lý và cạnh tranh không bình đẳng và thực tế việc này đã xảy ra gây khó khăn cho quản lý thị trường.

Hiện nay, một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan… chỉ cho phép các tổ chức, cá nhân nước ngoài sản xuất hoạt chất, thuốc kỹ thuật hoặc thuốc thành phẩm có tư cách pháp nhân (công ty hoặc chi nhánh…) đăng ký sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật tại nước sở tại mới được đăng ký.

Vì vậy để xử lý triệt để vấn đề này, có 2 phương án kiến nghị được đưa ra.

Một là, sửa quy định Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật (khoản 2 Điều 50) bắt buộc các tổ chức nước ngoài muốn đứng tên đăng ký thuốc BVTV phải thành lập Công ty hoặc Chi nhánh công ty hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để làm chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý cao nhất.

Hai là, sửa đổi câu chữ thành "có văn phòng đại diện "và*"* công ty hoặc chi nhánh công ty hoạt động tại Việt Nam", thay vì chỉ dùng chữ "hoặc*"* nhằm triệt tiêu hoàn toàn kẽ hở pháp lý; không cho phép Văn phòng đại diện không có thực thể kinh doanh trực tiếp thuốc BVTV tại Việt Nam đứng tên đăng ký.

Về sản xuất, gia công và nhập khẩu

Nhóm nội dung này được đưa ra thảo luận về 3 vấn đề.

Đầu tiên là trùng lặp thủ tục hợp quy đối với nguyên liệu và bán thành phẩm.

Hiện tại, khi doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu (thuốc kỹ thuật) để đưa vào nhà máy gia công, cơ quan kiểm tra bắt buộc phải làm hợp quy nguyên liệu. Sau khi sản xuất ra thành phẩm, doanh nghiệp lại phải hợp quy thành phẩm một lần nữa.

Điều này là vô lý vì nguyên liệu chỉ dùng trong nội bộ nhà máy, không lưu thông trên thị trường và nhà sản xuất thành phẩm cuối cùng mới là bên chịu trách nhiệm chất lượng pháp lý.

Tương tự, đối với hàng bán thành phẩm thuốc BVTV (đóng phuy 200 lít) nhập khẩu về chỉ để sang chai đóng gói, doanh nghiệp bị buộc phải hợp quy bán thành phẩm theo Phương thức 5, rồi sau khi sang chai lại phải hợp quy tiếp một lần nữa theo Phương thức 5.

Giải pháp kiến nghị là bãi bỏ hoàn toàn thủ tục hợp quy đối với nguyên liệu (thuốc kỹ thuật) nhập khẩu; đối với bán thành phẩm nhập khẩu về chỉ để sang chai, chỉ yêu cầu thực hiện hợp quy một lần (áp kết quả hợp quy bán thành phẩm cho sản phẩm sau sang chai).

Vướng mắc tiếp theo có liên quan đến khâu ách tắc thủ tục sau khi phân cấp, phân quyền về địa phương và kiểm tra ở Hải quan. Theo Nghị quyết 66, thủ tục đăng ký kiểm tra chất lượng nguyên liệu nhập khẩu được đưa về cấp Tỉnh xử lý đã bị kéo dài 5-6 ngày (ở Bộ chủ quản chỉ mất 1-2 ngày) do Tỉnh không có đủ điều kiện trang thiết bị phân tích, phải gửi mẫu vòng lại lên các trung tâm của Bộ rồi đợi chờ kết quả mất nhiều thời gian hơn, gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Về thông quan, thời gian kiểm tra chất lượng và thông quan tại Hải quan kéo dài tới 20 - 25 ngày và nếu quá hạn 30 ngày doanh nghiệp sẽ bị xử phạt hoặc bị đưa vào luồng đỏ kiểm tra nghiêm ngặt.

Ngoài ra, nhiều loại thuốc có tính thời vụ rất ngắn (như thuốc cỏ chỉ khoảng 15 ngày), lỡ thời vụ sẽ gây thiệt hại rất lớn và tốn nhiều chi phí lưu kho bãi.

Đặc biệt, đối với thuốc vi sinh (như Bacillus thuringiensis), việc Hải quan siết chặt kiểm tra tên chủng vi sinh vật cụ thể (kurstaki, aizawai) trong khi còn thiếu quy chuẩn quốc gia xác định các chủng vi sinh đã khiến việc nhập khẩu thuốc vi sinh bị tắc nghẽn suốt 2 năm qua cho doanh nghiệp.

Đề xuất kiến nghị là phía Hải quan nên nâng thời hạn thông quan không bị phạt lên 60 ngày hoặc cho phép doanh nghiệp được đưa hàng về kho riêng để bảo quản (do chưa được bán ra thị trường) nhằm giảm chi phí bến bãi.

Vấn đề thứ 3 là còn bất hợp lý trong quy định về nộp chất chuẩn hoạt chất. Hiện nay, doanh nghiệp khi đăng ký bổ sung các hoạt chất đã có sẵn trong danh mục vẫn bị buộc phải nộp 2 gram chất chuẩn phân tích có độ tinh khiết cao. Chất chuẩn này thường chỉ đóng chai 50-100 mg, khiến doanh nghiệp phải mua tới 40 lọ với chi phí rất đắt đỏ, gây lãng phí lớn.

Giải pháp đề nghị là chỉ bắt buộc nộp chất chuẩn đối với việc đăng ký hoạt chất mới hoàn toàn; nên bãi bỏ yêu cầu này đối với các đăng ký bổ sung.

Về việc quản lý bằng khoa học và tăng cường hậu kiểm

Những năm vừa qua, Bộ NN-PTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã tích cực chỉ đạo các cơ quan chuyên môn đẩy mạnh công tác loại khỏi danh mục các loại thuốc BVTV không còn phù hợp.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả cho công tác này, các đại biểu tham gia hội thảo đề nghị Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, VIPA và Croplife tiếp tục vận động các doanh nghiệp thuốc BVTV chủ động rà soát, tự động loại bỏ những loại thuốc BVTV không kinh doanh, hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại thấp, có bằng chứng gây độc cho sức khỏe con người và môi trường.

Tuy nhiên, không nên giới hạn danh mục cơ học bằng số lượng để tránh loại bỏ nhầm sản phẩm tốt. Việc loại bỏ sản phẩm phải dựa trên bằng chứng khoa học và đánh giá rủi ro thực tế trên đồng ruộng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Trồng trọt và BVTV cũng nên cho phép các doanh nghiệp đó được đăng ký thay bằng thuốc BVTV sinh học hoặc thuốc BVTV thế hệ mới an toàn hơn.

Liên quan đến khâu sử dụng và hậu kiểm, quan điểm chung của các đại biểu là cần tăng cường việc hậu kiểm và xử phạt. Cụ thể, cần chuyển dịch trọng tâm quản lý từ khâu tiền kiểm (đăng ký) sang tăng cường khâu hậu kiểm trên thị trường.

Song song đó, cần áp dụng chế tài xử phạt cực kỳ nghiêm khắc đối với các hành vi: sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu (kể cả thuốc BVTV sinh học giả, kém phẩm chất). Đồng thời, đề nghị cần bổ sung hành lang pháp lý để kiểm soát chặt chẽ việc kinh doanh thuốc BVTV đang tràn lan trên các nền tảng thương mại điện tử hiện nay.