Thị trường đang quyết định cách nông sản Việt được sản xuất

Thị trường đang quyết định cách nông sản Việt được sản xuất
Điều này đang buộc chuỗi nông sản Việt Nam thay đổi cách tổ chức, từ vùng nguyên liệu đến chế biến và phân phối.
Đơn hàng đi trước, vùng nguyên liệu phải đi sau
Nhiều năm, sản xuất nông nghiệp thường bắt đầu từ câu hỏi “có thể trồng được bao nhiêu”. Nhưng khi các thị trường nhập khẩu siết tiêu chuẩn, câu hỏi quan trọng hơn lại là “thị trường cần gì và chấp nhận sản phẩm nào”.
Sự thay đổi này thể hiện rõ ở nhóm rau quả. 9 tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%. Riêng sầu riêng đạt khoảng 2,27 tỷ USD trong 8 tháng, tăng 47,8%.
Tốc độ tăng trưởng cao mở ra cơ hội, nhưng đồng thời khiến yêu cầu kiểm soát vùng trồng, cơ sở đóng gói, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc trở nên chặt chẽ hơn. Một lô hàng không đáp ứng tiêu chuẩn có thể ảnh hưởng không chỉ một doanh nghiệp mà cả vùng sản xuất.
Vì vậy, mã số vùng trồng, nhật ký sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào hay truy xuất không còn là những yêu cầu nằm ở cuối chuỗi. Chúng phải được xây dựng ngay từ đầu, gắn với từng đơn hàng và từng thị trường.
Cùng với đó, chế biến đang trở thành công cụ để doanh nghiệp chủ động hơn trước biến động mùa vụ. Sầu riêng đông lạnh, trái cây sấy hay các sản phẩm chế biến sâu có thể kéo dài thời gian bảo quản, giảm áp lực phải bán ngay sau thu hoạch và mở rộng thị trường ngoài thời điểm chính vụ.
Không phải thị trường nào cũng mua cùng một loại nông sản
Sự phân hóa còn thể hiện ở các ngành hàng chủ lực. Cà phê 9 tháng xuất khẩu khoảng 1,44 triệu tấn, tăng 15,4%, nhưng kim ngạch lại giảm 7,3%, còn 6,54 tỷ USD do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh.
Gạo cũng trong tình trạng tương tự. Lượng xuất khẩu khoảng 6,4 triệu tấn, giảm 6,1%, kim ngạch giảm 10,9% xuống khoảng 3,11 tỷ USD. Những con số này cho thấy thị trường đang tạo ra giới hạn rõ hơn đối với mô hình phụ thuộc vào sản lượng và giá hàng hóa.
Thay vì chỉ tìm cách bán thêm cà phê hay gạo, doanh nghiệp phải xác định phân khúc có khả năng tạo giá trị cao hơn. Cà phê rang xay, hòa tan, cà phê đặc sản hay gạo thơm, gạo chất lượng cao là những hướng đi gắn sản phẩm với nhu cầu cụ thể của từng thị trường.
Thủy sản cũng phải đối mặt với yêu cầu tương tự. 9 tháng, kim ngạch đạt khoảng 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%, nhưng doanh nghiệp đồng thời chịu áp lực từ nguyên liệu, logistics, kho lạnh và các yêu cầu chống khai thác IUU.
Trong bối cảnh đó, mở thêm thị trường trở thành yêu cầu song song với nâng chất lượng. Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, các nước CPTPP, RCEP cùng Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh đang tạo thêm dư địa cho nông sản Việt.
Nhưng mở thị trường không có nghĩa đưa một sản phẩm giống nhau đến mọi nơi. Mỗi thị trường có tiêu chuẩn, thị hiếu và mức giá khác nhau. Doanh nghiệp vì vậy phải chuyển từ tư duy “có gì bán nấy” sang xây dựng sản phẩm theo từng nhóm khách hàng.
Mục tiêu xuất khẩu hơn 74 tỷ USD năm 2026 vẫn là thước đo quan trọng. Tuy nhiên, sức cạnh tranh dài hạn sẽ được quyết định ở một tầng khác: nông sản Việt có thể chủ động thiết kế sản phẩm theo nhu cầu thị trường đến đâu. Khi thị trường trở thành điểm xuất phát của sản xuất, thay vì chỉ là nơi tiêu thụ cuối cùng, giá trị của mỗi vùng nguyên liệu và mỗi tấn hàng xuất khẩu mới có cơ hội được nâng lên.
Nam Sơn* (t/h)*