Thị trường nông sản 19/6: Cà phê sát 90.000 đồng, sầu riêng VIP neo giá cao
Thị trường nông sản 19/6: Cà phê sát 90.000 đồng, sầu riêng VIP neo giá cao
Thị trường nông sản 19/6: Cà phê sát 90.000 đồng, sầu riêng VIP neo giá cao
Trong khi giá cà phê nội địa bám sát đà tăng của sàn London và sầu riêng xuất khẩu giữ mức giá cao nhờ lực cầu tốt, thị trường heo hơi lại chứng kiến sự chênh lệch lớn giữa hai miền Nam Bắc. Ở các mặt hàng khác như lúa gạo, hồ tiêu và cao su, đà đi ngang tiếp tục là xu hướng chủ đạo.
Cà phê duy trì đà tăng nhờ lực đỡ từ thị trường quốc tế
Thị trường nông sản sáng nay cho thấy, giá cà phê trong nước tăng trung bình 400 đồng/kg khi kết thúc phiên giao dịch trước đó.
Cụ thể, theo cập nhật từ giacaphe.com, Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng mới) là hai địa phương có mức giá thu mua cao nhất cả nước khi cùng đạt 89.600 đồng/kg.
Trong đó, khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) ghi nhận mức tăng mạnh nhất tới 600 đồng/kg, còn Đắk Lắk tăng 300 đồng/kg.
Tại Gia Lai, giá cà phê đạt 89.500 đồng/kg sau khi tăng 200 đồng/kg, và khu vực Lâm Đồng (cũ) cũng nhích thêm 400 đồng/kg để lên mức 89.400 đồng/kg.
Diễn biến khả quan của thị trường nội địa phần lớn được cộng hưởng từ sắc xanh của sàn Robusta London.
Dữ liệu cập nhật mới nhất cho thấy hợp đồng Robusta kỳ hạn tháng 7/2026 đạt 3.680 USD/tấn, tăng 11 USD tương đương 0,30%.
Hợp đồng kỳ hạn tháng 9/2026 cũng tăng 24 USD lên mức 3.622 USD/tấn.
Các kỳ hạn xa hơn từ tháng 11/2026 đến tháng 3/2027 đều duy trì đà tăng trưởng từ 0,82% đến trên 1%, cho thấy lực mua đang xuất hiện đều đặn.
Khác với sự đồng thuận của Robusta, sàn Arabica New York lại cho thấy xu hướng phân hóa.
Hợp đồng kỳ hạn tháng 7/2026 tăng nhẹ 0,60 cent lên 277,85 cent/lb, nhưng các kỳ hạn tháng 9/2026 và tháng 12/26 lại quay đầu giảm nhẹ lần lượt ở mức 0,90 cent và 0,45 cent.
Thị trường nông sản ghi nhận giá hồ tiêu trong nước tiếp tục đi ngang
Sau nhịp điều chỉnh giảm nhẹ đầu tuần, thị trường hồ tiêu nội địa đã tìm lại sự cân bằng.
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, giá thu mua tại các vùng trọng điểm hiện dao động từ 138.000 đến 140.500 đồng/kg.
Đắk Lắk tiếp tục dẫn đầu cả nước với mức giá 140.500 đồng/kg, theo sát là khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng mới) với 140.000 đồng/kg.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP.HCM), thương lái đang thu mua ở mức 139.500 đồng/kg. Trong khi Gia Lai và Đồng Nai chốt ở mức thấp nhất thị trường là 138.000 đồng/kg.
Trên bình diện quốc tế, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế ghi nhận sự bứt phá của thị trường Indonesia.
Giá tiêu đen của quốc gia này tăng 0,95% lên mức 7.205 USD/tấn, đồng thời tiêu trắng Muntok cũng tăng 0,94% đạt 9.298 USD/tấn. Các quốc gia xuất khẩu lớn khác vẫn giữ mặt bằng giá cũ.
Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 chào bán ở mức 5.950 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia chốt ở 9.350 USD/tấn.
Đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, giá tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 6.100 đến 6.200 USD/tấn. Tiêu trắng xuất khẩu ổn định ở mức 9.000 USD/tấn.
Lúa gạo trầm lắng, giá xuất khẩu các nước có xu hướng tăng nhẹ
Khảo sát một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, sáng nay giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 tiếp tục được giao dịch quanh mức 6.400 đến 6.500 đồng/kg.
Lúa OM 5451 giữ mức 5.700 đến 5.800 đồng/kg, IR 50404 dao động từ 5.500 đến 5.600 đồng/kg, còn lúa OM 34 thấp hơn ở khoảng 5.100 đến 5.200 đồng/kg.
Nhóm nếp tươi IR 4625 duy trì ở mức 7.300 đến 7.500 đồng/kg và nếp khô đạt 9.600 đến 9.700 đồng/kg.
Ở mặt hàng gạo nguyên liệu và thành phẩm, giá IR 504 nguyên liệu dao động từ 8.700 đến 8.800 đồng/kg.
Gạo OM 5451 chốt ở mức 9.500 đến 9.600 đồng/kg, còn gạo Đài Thơm 8 được thương lái mua vào từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 tiếp tục giữ vững vùng giá 10.750 đến 10.900 đồng/kg.
Với các phụ phẩm như tấm thơm và cám lần lượt ở khoảng 7.750 đến 7.850 đồng/kg và 7.850 đến 8.050 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá gạo Việt Nam đi ngang với gạo Jasmine chào bán từ 504 đến 508 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm từ 485 đến 490 USD/tấn.
Trái ngược với sự bình lặng của hàng Việt, gạo 5% tấm của Thái Lan nhích nhẹ lên mức 469 đến 473 USD/tấn, và gạo cùng loại của Ấn Độ cũng đạt 347 đến 351 USD/tấn.
Sầu riêng Thái duy trì sức hút, Ri6 chịu áp lực nguồn cung
Thị trường sầu riêng tại các kho thu mua ghi nhận tín hiệu tích cực ở phân khúc hàng xuất khẩu cao cấp.
Cụ thể, sầu riêng Thái tiếp tục là mặt hàng dẫn dắt thị trường. Đặc biệt tại khu vực Đồng Nai khi hàng VIP loại A vươn lên mốc 78.000 đến 83.000 đồng/kg. Còn hàng loại B từ 58.000 đến 63.000 đồng/kg.
Tuy nhiên, ngôi vương về giá vẫn thuộc về giống Black Thorn tại Đồng Nai với mức 110.000 đồng/kg cho loại A và 90.000 đồng/kg cho loại B.
Tại ĐBSCL, sầu Thái loại A có giá từ 71.000 đến 77.000 đồng/kg, còn loại B từ 51.000 đến 57.000 đồng/kg. Khu vực Tây Ninh cũng ghi nhận sầu Thái loại A ở mức 74.000 đồng/kg.
Ngược lại với sức hút của sầu Thái, giống Ri6 đang chịu áp lực lớn do bước vào chính vụ thu hoạch.
Cụ thể, giá Ri6 loại A tại miền Tây chỉ dao động từ 39.000 đến 46.000 đồng/kg, loại B rớt xuống vùng 25.000 đến 31.000 đồng/kg.
Tại Đồng Nai và Tây Ninh, Ri6 loại A cũng quanh quẩn mức 36.000 đến 44.000 đồng/kg.
Riêng dòng Musang King vẫn giữ được mức giá tốt nhờ sản lượng hạn chế, dao động ổn định quanh mức 75.000 đến 81.000 đồng/kg đối với hàng loại A tùy từng địa phương.
Giá heo hơi phân hoá giữ các vùng miền
Thị trường heo hơi sáng nay tiếp tục cho thấy sự phân hóa rõ rệt trên phạm vi cả nước với dải giá từ 62.000 đến 68.000 đồng/kg.
Miền Bắc vẫn là khu vực neo giá tốt nhất khi nhiều địa phương như Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ và Hưng Yên cùng chốt ở mức 68.000 đồng/kg.
Các tỉnh thành còn lại trong khu vực cũng vững vàng ở mức 67.000 đồng/kg, cho thấy sức mua tại đây ổn định hơn hẳn so với phần còn lại của đất nước.
Ở miền Trung và Tây Nguyên, giá heo giảm dần theo chiều từ Bắc vào Nam. Thanh Hóa dẫn đầu khu vực với 67.000 đồng/kg, theo sau là Nghệ An 66.000 đồng/kg và Hà Tĩnh 65.000 đồng/kg.
Dịch dần vào Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, các tỉnh như Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng cùng lùi về mức 63.000 đồng/kg dưới áp lực nguồn cung.
Tình hình tại miền Nam có phần ảm đạm hơn khi nhiều địa phương rớt xuống mức 62.000 đồng/kg bao gồm Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau.
Các trung tâm lớn như Đồng Nai, Tây Ninh, TP HCM, Vĩnh Long và Cần Thơ cũng chỉ giữ được mức 63.000 đồng/kg.
Sự chênh lệch lên đến 6.000 đồng/kg giữa miền Nam và miền Bắc phản ánh tình trạng cung vượt cầu tạm thời ở phía Nam.
Cao su thế giới đồng loạt giảm đỏ, nội địa bình ổn
Thị trường cao su quốc tế đang bước vào chu kỳ điều chỉnh ngắn hạn sau khi chạm vùng giá cao thời gian qua.
Đáng chú ý nhất là sàn SHFE Thượng Hải khi toàn bộ các hợp đồng đều ghi nhận mức giảm trên 1%.
Cụ thể, hợp đồng kỳ hạn tháng 6/2026 giảm 1,17% về 17.750 CNY/tấn, và các tháng tiếp theo đến tháng 10/2026 đều lùi về vùng 17.770 đến 17.800 CNY/tấn.
Tại Nhật Bản, ngoại trừ hợp đồng tháng 6/2026 nhích nhẹ 0,19% lên 430,80 JPY/kg, các kỳ hạn xa hơn trên sàn TOCOM đều lao dốc, trong đó tháng 9/2026 giảm sâu 1,85% xuống 433,00 JPY/kg.
Tại Singapore, hợp đồng TSR20 sàn SGX kỳ hạn từ tháng 7 đến tháng 11/2026 cũng mất từ 0,22% đến 0,35% giá trị, chốt quanh mốc 227 đến 228 cent/kg.
Tuy thị trường thế giới biến động mạnh, giá thu mua mủ cao su trong nước vẫn không có sự thay đổi.
Công ty Cao su Mang Yang duy trì thu mua mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg và loại 2 ở mức 458 đồng/TSC/kg, mủ đông tạp loại 1 chốt 459 đồng/kg.
Tại Công ty Phú Riềng, giá mủ nước đạt 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa phân loại mủ nước theo ba mức độ, từ 442 đến 452 đồng/độ TSC/kg tùy theo chất lượng, cùng với mủ tạp dao động từ 13.500 đến 18.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Công ty Cao su Bình Long đang trả 545 đồng/độ TSC/kg cho mủ nước giao tại nhà máy và 18.000 đồng/kg cho mủ tạp có độ DRC bằng 60%.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.