Thị trường nông sản 26/6: Cà phê tiến sát ngưỡng 90.000 đồng, cao su bốc hơi mạnh trên các sàn châu Á
Thị trường nông sản 26/6: Cà phê tiến sát ngưỡng 90.000 đồng, cao su bốc hơi mạnh trên các sàn châu Á
Thị trường nông sản 26/6: Cà phê tiến sát ngưỡng 90.000 đồng, cao su bốc hơi mạnh trên các sàn châu Á
Thị trường hàng hóa ngày 26/6 ghi nhận giá cà phê trong nước tiếp đà tăng nhờ lực kéo từ các sàn giao dịch quốc tế. Trong khi đó, ngành cao su toàn cầu chìm trong sắc đỏ, còn giá heo hơi và hồ tiêu duy trì trạng thái đi ngang.
Cà phê trong nước đồng loạt tăng thêm 700 đồng/kg
Thị trường nông sản sáng nay tiếp tục chứng kiến giá cà phê trong nước đồng loạt điều chỉnh tăng thêm 700 đồng/kg ở các vùng trồng trọng điểm. Qua đó, đưa mặt bằng giá trung bình vươn lên mức 89.400 đồng/kg.
Theo cập nhật từ giacaphe.com, khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) vẫn là nơi có mức giá thu mua cao nhất đạt 89.500 đồng/kg.
Bám sát phía sau là Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức 89.400 đồng/kg. Còn tại Lâm Đồng (cũ) hiện neo ở mức 89.000 đồng/kg.
Động lực chính của thị trường nội địa bắt nguồn từ sức nóng trên các sàn giao dịch quốc tế.
Cụ thể, tại sàn London, giá cà phê Robusta vọt tăng rực rỡ ở mọi kỳ hạn.
Đáng chú ý nhất là hợp đồng giao tháng 7/2026 khi cộng thêm tới 127 USD/tấn. Tương đương mức tăng 3,55 phần trăm, chính thức đạt 3.707 USD/tấn. Các kỳ hạn xa hơn như tháng 9 và tháng 11 cũng tịnh tiến đều đặn.
Cùng chung nhịp đập, giá Arabica trên sàn New York ghi nhận sắc xanh với kỳ hạn giao tháng 7/2026 nhích thêm 3,60 cent/lb, vươn lên 291,55 cent/lb.
Giá hồ tiêu vẫn duy trì sự ổn định trên thị trường nông sản
Trái ngược với sự sôi động của cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục chuỗi ngày bình ổn với mức giá dao động từ 137.000 đến 139.000 đồng/kg.
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) vẫn là hai đầu tàu giữ mức giá đỉnh 139.000 đồng/kg.
Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP.HCM) và Đồng Nai theo sát với 137.500 đồng/kg. Riêng Gia Lai chốt mức thấp nhất vùng là 137.000 đồng/kg.
Trên bình diện quốc tế, bức tranh hồ tiêu không có nhiều xáo trộn.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia tiếp tục neo ở 7.124 USD/tấn, tiêu đen Brazil đạt 5.900 USD/tấn và Malaysia giữ vững 9.350 USD/tấn.
Đối với thị trường Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn đi ngang trong khoảng 6.100 đến 6.200 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá chào bán của Việt Nam và Malaysia lần lượt đứng ở mức 9.000 USD/tấn và 12.250 USD/tấn.
Lúa gạo xuất khẩu nhích nhẹ
Khảo sát tại một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, tại khu vực ĐBSCL, giá lúa gạo nhìn chung ít biến động, điểm sáng thuộc về gạo nguyên liệu xuất khẩu.
Cụ thể, gạo nguyên liệu CL 555 ghi nhận mức tăng 100 đồng/kg, vươn lên mức 9.100 đồng/kg.
Các dòng gạo nguyên liệu khác tại An Giang như OM 5451 dao động mức 9.500 đến 9.600 đồng/kg, Đài Thơm 8 khoảng 9.200 đến 9.400 đồng/kg. Giá lúa tươi như IR 50404 dao động 5.500 đến 5.700 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, gạo Việt Nam giữ vững vị thế với dòng Jasmine chào bán từ 505 đến 509 USD/tấn. Gạo thơm 5 phần trăm tấm quanh mức 485 đến 490 USD/tấn.
Cùng thời điểm, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc dự báo sản lượng lúa gạo toàn cầu niên vụ 2026 đến 2027 có thể sụt giảm xuống còn 552,4 triệu tấn do tác động tiêu cực từ hiện tượng El Nino.
Sầu riêng phân hóa rõ rệt
Giá sầu riêng sáng nay đang chứng kiến sự phân hóa.
Theo khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net, mặt hàng sầu riêng Thái ghi nhận diễn biến tích cực. Đặc biệt là hàng loại A được thu mua với giá từ 62.000 đến 72.000 đồng/kg tại miền Tây, thậm chí lên tới 78.000 đồng/kg tại Tây Ninh và Đồng Nai.
Ngược lại, giống Ri6 đang chịu áp lực lớn do nguồn cung đổ về dồi dào trong giai đoạn thu hoạch rộ, đẩy giá loại A xuống vùng 35.000 đến 43.000 đồng/kg.
Riêng các dòng cao cấp vẫn chứng tỏ đẳng cấp khi vững vàng ở mức 80.000 đồng/kg đối với Musang King loại A và 110.000 đồng/kg. Đối với Black Thorn loại A nhờ sự khan hiếm và tệp khách hàng đặc thù.
Heo hơi chững lại vùng giá thấp
Thị trường heo hơi toàn quốc sáng nay vẫn chưa tìm thấy động lực bứt phá khi mức giá chung dao động từ 61.000 đến 68.000 đồng/kg.
Cụ thể, miền Bắc vẫn là khu vực có mặt bằng giá cao nhất dù vừa trải qua nhịp điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg tại Quảng Ninh, Phú Thọ và Sơn La. Hiện giá tại đây phổ biến từ 67.000 đến 68.000 đồng/kg.
Khu vực miền Trung và Tây Nguyên giao dịch trong khoảng 62.000 đến 67.000 đồng/kg, trong đó Thanh Hóa dẫn đầu với 67.000 đồng/kg.
Các tỉnh miền Nam hiện đang dò đáy của cả nước với mức giá chỉ từ 61.000 đến 63.000 đồng/kg. Hàng loạt tỉnh như Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang cùng neo ở 61.000 đồng/kg. Còn Đồng Nai đạt mức cao nhất vùng là 63.000 đồng/kg.
Cao su thế giới giảm sâu
Thị trường cao su thế giới vừa trải qua một phiên giao dịch chìm trong sắc đỏ. Đặc biệt là tại các sàn giao dịch lớn tại châu Á bao gồm TOCOM, Thượng Hải và Singapore.
Cụ thể, tại Nhật Bản, sàn TOCOM chứng kiến giá cao su RSS3 giảm mạnh. Hợp đồng giao tháng 6 năm 2026 giảm 4,09% xuống còn 413,40 JPY/kg. Kỳ hạn tháng 7 giảm 3,83% xuống 415,50 JPY/kg, kỳ hạn tháng 8 giảm 3,42% xuống 417,70 JPY/kg.
Tại sàn SHFE Thượng Hải, giá cao su tự nhiên cũng lao dốc mạnh từ 5,19% đến 5,55%, đưa các hợp đồng từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2026 về quanh mức từ 16.660 đến 16.705 CNY/tấn.
Tương tự, sàn SGX Singapore chứng kiến hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 7 năm 2026 giảm 5,61% còn 210,40 Cent/kg. Kỳ hạn tháng 8 sụt giảm sâu nhất tới 6,29% xuống mức 211,50 Cent/kg. Các kỳ hạn còn lại dao động từ 213,20 đến 213,50 Cent/kg.
Mặc dù thị trường quốc tế rung lắc dữ dội, thị trường cao su nội địa vẫn giữ vững sự bình ổn nhờ các kế hoạch thu mua ổn định từ các doanh nghiệp lớn.
Cụ thể, tại Công ty Cao su Bình Long, giá mủ nước thu mua tại nhà máy đạt 545 đồng/độ TSC/kg và tại đội sản xuất đạt 535 đồng/độ TSC/kg.
Tại Công ty Cao su Mang Yang, giá mủ nước loại 1 và loại 2 lần lượt đạt 463 đồng/độ TSC/kg và 458 đồng/độ TSC/kg.
Tại Công ty Cao su Phú Riềng, giá mủ nước định vị ở mức 420 đồng/độ TSC/kg và mủ tạp đạt 390 đồng/độ DRC/kg.
Đối với Công ty Cao su Bà Rịa, giá mủ nước loại 1 đạt 452 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên, loại 2 đạt 447 đồng/độ TSC/kg và loại 3 đạt 442 đồng/độ TSC/kg.