Thị trường sầu riêng trước ngã rẽ mới:[Bài 3] Chuẩn hóa để đi đường dài
![Thị trường sầu riêng trước ngã rẽ mới:[Bài 3] Chuẩn hóa để đi đường dài](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/800w/files/bao_in/2023/03/02/14461833ct-ubnd-tinh-tham-vuon-sau-rieng-cua-ong-tran-144618-183648.jpeg)
Để đi đường dài, ngành sầu riêng phải tổ chức lại vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi và quản lý đồng bộ từ sản xuất đến xuất khẩu.
Tổ chức lại vùng nguyên liệu
Những biến động của thị trường thời gian qua không chỉ khiến giá sầu riêng lao dốc, xuất khẩu gặp khó khăn mà còn bộc lộ những tồn tại trong tổ chức sản xuất. Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật, bài toán đặt ra hiện nay là phải chuẩn hóa lại toàn bộ chuỗi giá trị ngành hàng thay vì nghẽn đâu tháo đó. Phải tổ chức lại toàn bộ vùng nguyên liệu theo hướng chuyên nghiệp, đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa người trồng, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc đang trở thành điều kiện bắt buộc đối với hoạt động xuất khẩu. Điều đó đồng nghĩa với việc ngành sầu riêng không thể tiếp tục phát triển theo mô hình sản xuất nhỏ lẻ, mỗi hộ làm một cách như trước đây.
Ông Nguyên cho rằng, khi các thị trường ngày càng coi trọng tính minh bạch và đồng nhất của sản phẩm, doanh nghiệp cũng không còn có thể thu mua nguyên liệu từ nhiều nguồn rời rạc rồi mới phân loại như trước. Muốn đáp ứng ổn định các đơn hàng xuất khẩu, doanh nghiệp cần những vùng nguyên liệu được quản lý thống nhất về quy trình canh tác, sản lượng, chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc. "Việc xây dựng vùng nguyên liệu không chỉ giúp doanh nghiệp chủ động nguồn hàng mà còn tạo nền tảng để ngành sầu riêng phát triển bền vững trong dài hạn", ông Nguyên nhận định.
Bên cạnh đó, hợp tác xã cần được trao vai trò lớn hơn trong tổ chức sản xuất; phải điều phối quy trình canh tác, hướng dẫn nông dân tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật và kết nối trực tiếp với doanh nghiệp, giúp các yêu cầu của thị trường được truyền tải nhanh và thống nhất đến từng thành viên. Khi người dân cùng tuân thủ một quy trình sản xuất, doanh nghiệp cũng chủ động hơn trong xây dựng kế hoạch thu mua và xuất khẩu.
Ở góc độ quản lý Nhà nước, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho rằng, giải pháp căn cơ của ngành sầu riêng vẫn là xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, gắn với cấp mã số vùng trồng, quản lý mã số cơ sở đóng gói và đẩy mạnh chuyển đổi số trong truy xuất nguồn gốc.
Theo Thứ trưởng, quá trình quản lý không thể chỉ tập trung ở khâu xuất khẩu mà phải được thực hiện xuyên suốt từ sản xuất, chăm sóc, thu hoạch, sơ chế, đóng gói đến khi hàng hóa được đưa ra thị trường. Khi toàn bộ chuỗi được quản lý đồng bộ, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc đáp ứng yêu cầu của từng thị trường, đồng thời nâng cao giá trị và uy tín của sầu riêng Việt Nam.
Để hỗ trợ quá trình này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương tháo gỡ những vướng mắc trong cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng vùng nguyên liệu và kiểm định chất lượng. Theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, việc phân cấp cho địa phương phải đi kèm hướng dẫn, giám sát và nâng cao năng lực thực thi để bảo đảm quá trình triển khai thống nhất, tránh phát sinh những điểm nghẽn mới trong hoạt động xuất khẩu.
Thực tế cho thấy, khi vùng nguyên liệu được quy hoạch và quản lý bài bản, doanh nghiệp không chỉ chủ động hơn về nguồn hàng mà còn có điều kiện xây dựng kế hoạch sản xuất, chế biến và xuất khẩu theo nhu cầu của từng thị trường. Đây cũng là nền tảng để ngành sầu riêng chuyển từ phát triển theo sản lượng sang phát triển dựa trên chất lượng và khả năng tổ chức chuỗi giá trị.
Liên kết bằng dữ liệu
Nếu vùng nguyên liệu là nền tảng thì liên kết chính là điều kiện để vùng nguyên liệu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu minh bạch về nguồn gốc và chất lượng, mối liên kết này không thể chỉ dừng lại ở những hợp đồng bao tiêu hay các cam kết giữa doanh nghiệp và người trồng. Muốn phát triển bền vững, chuỗi sản xuất sầu riêng cần được vận hành trên nền tảng dữ liệu, công nghệ và sự phối hợp của tất cả các chủ thể trong ngành hàng.
Bà Ngô Tường Vy - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu cho biết, doanh nghiệp hiện áp dụng hai hình thức liên kết. Với những vùng nguyên liệu ổn định, doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu theo mức giá đã thỏa thuận. Đối với các vùng thu mua theo giá thị trường, doanh nghiệp vẫn hỗ trợ thêm chi phí cho hợp tác xã và người trồng thực hiện đúng quy trình kỹ thuật nhằm duy trì chất lượng và khuyến khích sản xuất theo tiêu chuẩn.
Điều doanh nghiệp hướng tới không phải là thu mua được nhiều hàng trong một vụ mùa mà là xây dựng mối liên kết đủ bền vững để cả doanh nghiệp và người trồng cùng phát triển trong nhiều năm. Theo bà Vy, khi người trồng có đầu ra ổn định, họ sẽ sẵn sàng đầu tư vào quy trình sản xuất và tuân thủ các tiêu chuẩn của thị trường, thay vì chạy theo những biến động giá ngắn hạn.
Ở góc độ khoa học, TS Lê Phong Hải - Giám đốc Trung tâm Chuyển giao công nghệ Biotech Solution, Phó Chủ tịch CLB Doanh nông Việt Nam cho rằng, việc tổ chức lại vùng nguyên liệu trong giai đoạn mới cần được hỗ trợ bằng dữ liệu và công nghệ thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm sản xuất.
Ông đề xuất xây dựng bản đồ Cadimi để đánh giá mức độ nhiễm kim loại nặng theo từng vùng trồng, giúp doanh nghiệp chủ động lựa chọn nguồn nguyên liệu đạt yêu cầu, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý và người dân xây dựng kế hoạch cải tạo đất theo từng khu vực thay vì xử lý khi sự cố đã xảy ra. Bên cạnh đó, ứng dụng hệ thống định vị GPS và số hóa toàn bộ thông tin vùng trồng sẽ giúp hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất cho ngành sầu riêng.
Theo ông Hải, dữ liệu sẽ giúp chuyển từ phương thức quản lý bị động sang quản trị chủ động. Khi vùng nguyên liệu được quản lý bằng dữ liệu số, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong xây dựng kế hoạch thu mua, cơ quan quản lý thuận lợi trong truy xuất nguồn gốc, còn người trồng cũng dễ dàng tiếp cận các khuyến cáo kỹ thuật phù hợp với điều kiện của từng khu vực.
Tuy nhiên, ông Hải cũng lưu ý công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có sự tham gia đồng bộ của tất cả các bên. Nhà khoa học cung cấp giải pháp kỹ thuật; doanh nghiệp tổ chức sản xuất và thị trường; hợp tác xã kết nối người trồng; còn Nhà nước giữ vai trò quy hoạch vùng nguyên liệu, hoàn thiện cơ chế và hỗ trợ hình thành hệ thống dữ liệu chung cho toàn ngành.
Thứ trưởng Võ Văn Hưng khẳng định, phát triển bền vững ngành sầu riêng không phải là nhiệm vụ của riêng doanh nghiệp hay người trồng mà cần sự phối hợp của cả hệ thống. Bên cạnh việc tiếp tục tháo gỡ những khó khăn trước mắt về kiểm định chất lượng và hoạt động xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với các địa phương triển khai hiệu quả việc phân cấp, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và tạo điều kiện để các chuỗi liên kết vận hành ổn định.
Theo Thứ trưởng, khi mỗi mắt xích trong chuỗi giá trị thực hiện đúng vai trò của mình, từ người trồng, hợp tác xã, doanh nghiệp đến cơ quan quản lý và nhà khoa học, ngành sầu riêng sẽ có đủ nền tảng để thích ứng với những tiêu chuẩn ngày càng cao trong tương lai.