🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Tìm giải pháp bền vững cho chuỗi giá trị tôm hùm

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Tìm giải pháp bền vững cho chuỗi giá trị tôm hùm

Nhiều giải pháp căn cơ về con giống, công nghệ và thị trường đã được thảo luận nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, hướng tới phát triển bền vững ngành tôm hùm.

Nhìn lại bức tranh toàn cảnh ngành hàng

Sáng 8/8, tại phường Nha Trang, Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa tổ chức hội nghị “Phát triển nuôi và tiêu thụ tôm hùm bền vững”.

Báo cáo từ Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho thấy vùng nuôi tôm hùm trải dài từ Quảng Bình đến TP.HCM, trong đó Đắk Lắk và Khánh Hòa chiếm trên 95% tổng số lồng nuôi và sản lượng cả nước. Ngành hàng ghi nhận đà phục hồi tích cực khi kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt mốc kỷ lục 858 triệu USD; 6 tháng đầu năm 2026 đạt 11.790 tấn, mang về 584,6 triệu USD (tăng 44,1% so với cùng kỳ). Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 98,53% kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, đằng sau sự tăng trưởng tích cực, ngành tôm hùm vẫn đối mặt với nhiều nút thắt lớn. Nhu cầu con giống cả nước cần khoảng 100 - 120 triệu con/năm nhưng nguồn khai thác tự nhiên chỉ đáp ứng được khoảng 10%. Quy trình sản xuất giống nhân tạo đối với tôm hùm bông dù có bước tiến ở quy mô nghiên cứu nhưng chưa thể nhân rộng thương mại. Do thiếu nguồn giống nhập khẩu chính ngạch trong 6 tháng đầu năm 2026, giá con giống bị đẩy lên rất cao (45.000 - 70.000 đồng/con), kéo theo nguy cơ kinh doanh và vận chuyển con giống không rõ nguồn gốc.

Bên cạnh đó, các thị trường nhập khẩu đòi hỏi ngày càng khắt khe, tiêu biểu như yêu cầu chứng minh nguồn gốc hợp pháp (F2) đối với tôm hùm bông. Thói quen nuôi lồng bè truyền thống và sử dụng thức ăn tươi sống khiến vùng nuôi đối mặt với nguy cơ ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh và tỷ lệ hao hụt cao (khoảng 30 - 35%).

Trước thực trạng này, Cục Thủy sản và Kiểm ngư định hướng ngành hàng cần chuyển dịch mạnh mẽ từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu. Trọng tâm là hợp tác nhập khẩu giống chính ngạch, đẩy nhanh giao khu vực biển, cấp mã số vùng nuôi, khuyến khích chuyển đổi sang lồng HDPE, áp dụng thức ăn công nghiệp và hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Thực tiễn và rào cản từ các địa phương

Khánh Hòa và Đắk Lắk là hai địa phương có quy mô nuôi tôm hùm lớn nhất cả nước nhưng đều đang đứng trước áp lực phải tổ chức và sắp xếp lại sản xuất.

Tại Khánh Hòa, ông Nguyễn Trọng Chánh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, tôm hùm là sản phẩm thủy sản đặc trưng có giá trị kinh tế cao, giúp tạo việc làm cho hàng nghìn hộ dân ven biển.

Quy mô lồng nuôi trên địa bàn gia tăng nhanh chóng: năm 2023 có 74.443 lồng (sản lượng 1.800 tấn); năm 2025 tăng lên 126.552 lồng (sản lượng 12.748,8 tấn). Trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 137.136 lồng với sản lượng 10.270,5 tấn. Không gian vùng nuôi tập trung lớn nhất tại vịnh Cam Ranh với 102.564 ô lồng, tiếp đến là vịnh Vân Phong với 38.640 lồng (tôm hùm bông chiếm 70%), vịnh Phan Rang với 5.090 ô lồng chìm, vịnh Nha Trang với 3.900 lồng và khu vực Ninh Hòa.

Mặc dù vậy, nguồn giống tự nhiên tại Khánh Hòa chỉ đáp ứng khoảng 5% nhu cầu 60 - 70 triệu con/năm. Do chính sách thắt chặt từ các nước xuất khẩu, lượng giống nhập khẩu giảm mạnh (6 tháng đầu năm 2026 đạt 0 triệu con), khiến giá giống bị đẩy lên 45.000 - 50.000 đồng/con với tôm hùm xanh và 60.000 - 65.000 đồng/con với tôm hùm bông.

Bên cạnh đó, liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ, chi phí đầu vào tăng cao và rủi ro dịch bệnh luôn rình rập. Để khắc phục, tỉnh đang rà soát đưa vùng nuôi vào quy hoạch, giao khu vực biển và đăng ký lồng nuôi theo Luật Thủy sản 2017, đồng thời hình thành các Tổ hợp tác, Hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp.

Tại Đắk Lắk, ông Nguyễn Thái Hòa, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thông tin, địa phương hiện có khoảng 160.000 lồng nuôi tôm hùm trên diện tích 2.500 ha. Việc phát triển tự phát khiến mật độ nuôi quá dày, với hơn 80% số lồng tập trung ở vùng ven bờ, gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh.

Ngành nuôi tại tỉnh còn đối mặt với rào cản do phụ thuộc giống nhập khẩu, chưa có thức ăn công nghiệp thương mại, chi phí đầu tư lồng HDPE cao và hơn 90% sản lượng xuất khẩu thô tươi sống sang Trung Quốc.

Để bảo vệ môi trường, Đắk Lắk đang quyết liệt rà soát, tái cơ cấu với kế hoạch điều chỉnh giảm quy mô xuống còn 48.000 lồng trên diện tích 1.000 ha. Đồng thời, tỉnh sẽ hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho các hộ nhỏ lẻ không đủ điều kiện, khuyến khích phát triển nuôi công nghệ cao xa bờ và thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư bài bản.

Hiến kế giải pháp căn cơ cho chuỗi giá trị

Để giải bài toán nguồn giống, ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký Hội Thủy sản Việt Nam phân tích, Indonesia là nguồn cung tôm hùm giống chính cho Việt Nam nhưng chính sách quản lý tại đây liên tục biến động. Theo Quy định KP 7/2024 của nước này, họ chỉ cho phép xuất khẩu tôm hùm sống trên 50g và yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cơ sở ươm giống bản địa.

Nhằm vượt qua rào cản này, ông Dũng đề xuất mô hình liên doanh hai giai đoạn: xây dựng cơ sở tại Indonesia để ươm tôm từ 0,2g lên 5g nhằm kiểm soát chất lượng, sau đó mới chuyển về Việt Nam dưỡng lên trên 20g trước khi cung ứng cho người nuôi.

Từ thực tiễn quản lý địa phương, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường hai tỉnh Khánh Hòa và Đắk Lắk kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan Trung ương đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia. Trọng tâm là tập trung nguồn lực làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo, nghiên cứu thức ăn công nghiệp chuyên dùng, hoàn thiện quy trình nuôi trên bờ bằng hệ thống lọc nước tuần hoàn (RAS) và xử lý các bệnh phổ biến như bệnh sữa, đen mang, đốm trắng. Đồng thời, 2 tỉnh đề xuất Trung ương ban hành các cơ chế đặc thù về tài chính, tín dụng, hạ tầng hậu cần, hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc nhập khẩu giống chính ngạch và đẩy mạnh xúc tiến mở rộng thị trường.

Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư khẳng định, tôm hùm là đối tượng nuôi chủ lực trong chiến lược phát triển nuôi biển quốc gia, hướng tới mục tiêu duy trì tăng trưởng giá trị sản xuất 8%/năm và đóng góp khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào năm 2030.

Để đạt mục tiêu này và thực hiện hiệu quả Quyết định 1664/QĐ-TTg cùng Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, Cục trưởng Trần Đình Luân yêu cầu toàn ngành chuyển dịch mạnh mẽ từ chiều rộng sang chiều sâu.

Lấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo làm động lực thúc đẩy theo tinh thần Nghị quyết 57. Toàn ngành cần tập trung quản lý vùng nuôi theo đúng sức tải môi trường, nhân rộng mô hình hợp tác xã liên kết chuỗi giá trị, lấy chất lượng, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc làm cốt lõi để đưa ngành tôm hùm phát triển hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế.

TS. Mai Duy Minh (Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam) cho biết, đơn vị đã nghiên cứu phát triển thức ăn công nghiệp cho tôm hùm, cả tôm hùm xanh và tôm hùm bông đều chấp nhận 100% loại thức ăn này, chất lượng thịt ổn định. Khi nuôi trên bể, tôm hùm xanh tăng trưởng gần bằng ăn thức ăn tươi, ít bệnh và phát triển đồng đều; riêng tôm hùm bông lớn chậm hơn.

Nuôi thử nghiệm ngoài lồng bè, tôm hùm xanh dùng thức ăn công nghiệp đạt tốc độ lớn bằng 80% so với ăn cá mồi nhưng tỷ lệ sống đạt 70%), hạn chế dịch bệnh so với nuôi bằng cá tươi hay vẹm, hàu. Hạn chế hiện nay là viên thức ăn chỉ bền trong nước 45 - 50 phút. Đơn vị đang nghiên cứu nâng độ bền lên 3 - 4 tiếng, kết hợp dùng máy cho ăn tự động (1 - 2 tiếng/lần). Dựa trên thực tế mô hình, đơn vị hướng tới lộ trình thay thế một phần và hoàn toàn thức ăn tươi trong 2 - 3 năm tới đối với tôm hùm xanh, đồng thời tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật tăng trưởng cho tôm hùm bông.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage