🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Triển khai hiệu quả tiêu chí thủy lợi trong xây dựng nông thôn mới

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Triển khai hiệu quả tiêu chí thủy lợi trong xây dựng nông thôn mới

Hướng dẫn thực hiện tiêu chí 2.2 về bảo trì công trình và bảo đảm tưới, tiêu nước chủ động là một trong những tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới.

Trong khuôn khổ chuỗi tập huấn hướng dẫn triển khai Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 do Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức, ThS. Lê Thị Bích Thuận - Cục Quản lý và Xây dựng Công trình Thủy lợi đã trình bày chuyên đề hướng dẫn thực hiện nội dung, tiêu chí thủy lợi, cung cấp cách tiếp cận toàn diện, gắn kết giữa yêu cầu kỹ thuật và thực tiễn quản lý tại cơ sở.

Trọng tâm của chuyên đề là hướng dẫn thực hiện tiêu chí 2.2 về bảo trì công trình và bảo đảm tưới, tiêu nước chủ động - một trong những tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới.

Theo đó, các công trình thủy lợi do cấp xã quản lý phải được bảo trì định kỳ hằng năm, bảo đảm vận hành an toàn, ổn định và đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản cũng như các hoạt động kinh tế liên quan.

Điểm nổi bật của tiêu chí 2.2 là cách tiếp cận linh hoạt, phân chia theo 3 nhóm xã dựa trên đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên.

Với các xã thuộc nhóm 1 là những địa bàn liền kề đô thị hoặc có định hướng phát triển lên đô thị yêu cầu được đặt ra ở mức cao, với tỷ lệ diện tích tưới tiêu chủ động đạt từ 90% trở lên. Không chỉ vậy, các địa phương này còn phải từng bước áp dụng công nghệ hiện đại như hệ thống tưới nhỏ giọt, phun mưa tự động, điều khiển từ xa thông qua các thiết bị thông minh. Đây là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước và thích ứng với mô hình nông nghiệp đô thị.

Đối với nhóm 2 là các xã có điều kiện phát triển trung bình yêu cầu về tỷ lệ diện tích tưới tiêu chủ động ở mức tối thiểu 80%. Các giải pháp được khuyến khích áp dụng là các mô hình tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, phù hợp với cây trồng chủ lực của địa phương. Việc lồng ghép các tiến bộ kỹ thuật như “1 phải 5 giảm” hay hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) không chỉ góp phần tiết kiệm tài nguyên nước mà còn nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Trong khi đó, nhóm 3 (gồm các xã khu vực II, III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) được áp dụng tiêu chí theo hướng linh hoạt hơn. Tỷ lệ diện tích tưới tiêu chủ động có thể ở mức từ 50% trở lên, tùy thuộc vào điều kiện địa hình, nguồn nước và tập quán canh tác.

Đáng chú ý, trong những trường hợp không có công trình thủy lợi nhưng sản xuất vẫn ổn định trong nhiều năm nhờ kinh nghiệm bản địa, địa phương vẫn có thể được xem xét đánh giá đạt tiêu chí. Cách tiếp cận này thể hiện sự phù hợp với thực tiễn đa dạng của các vùng miền, tránh áp đặt cứng nhắc.

Song song với yêu cầu về tỷ lệ tưới tiêu, công tác bảo trì công trình thủy lợi được xác định là điều kiện bắt buộc. Các địa phương phải xây dựng kế hoạch bảo trì cụ thể và thực hiện đạt 100% kế hoạch đề ra, nhằm bảo đảm công trình luôn trong trạng thái hoạt động bình thường và an toàn. Hệ thống hồ sơ minh chứng cũng được quy định rõ ràng, bao gồm báo cáo kiểm tra định kỳ trước và sau mùa mưa, hồ sơ sử dụng nhân lực, vật tư và các tài liệu liên quan đến sửa chữa, nâng cấp công trình.

Để bảo đảm tính minh bạch và thống nhất trong đánh giá, phương pháp xác định diện tích tưới tiêu chủ động được chuẩn hóa thông qua công thức cụ thể, áp dụng cho nhiều loại hình sản xuất khác nhau. Điều này giúp các địa phương dễ dàng tính toán, đối chiếu và hoàn thiện hồ sơ, đồng thời tạo cơ sở để cơ quan quản lý kiểm tra, giám sát hiệu quả hơn.

Theo định hướng này, các địa phương cần ưu tiên sửa chữa công trình xuống cấp, hoàn thiện hệ thống kênh mương và đầu tư phù hợp theo từng nhóm xã. Với nhóm 1, ưu tiên hàng đầu là kiên cố hóa hệ thống kênh mương, ứng dụng công nghệ tự động hóa và xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo. Nhóm 2 tập trung phát triển hệ thống thủy lợi nội đồng và mở rộng các mô hình tưới tiết kiệm nước. Trong khi đó, nhóm 3 cần chú trọng các giải pháp phù hợp với điều kiện địa hình như xây dựng ao, hồ tích trữ nước, đập dâng nhỏ hoặc hệ thống tự chảy.

Đối với các khu vực đặc thù như Đồng bằng sông Cửu Long hay vùng ven biển, các giải pháp kiểm soát mặn - ngọt, hoàn thiện hệ thống đê bao, bờ bao tiếp tục giữ vai trò then chốt. Đây là những yếu tố quyết định đến khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và nước biển dâng.

Để bảo đảm nguồn lực, ThS. Lê Thị Bích Thuận nhấn mạnh yêu cầu huy động đa dạng các nguồn vốn, từ ngân sách nhà nước, vốn lồng ghép từ các chương trình mục tiêu đến sự tham gia của doanh nghiệp và đóng góp của cộng đồng. Việc đa dạng hóa nguồn lực không chỉ giúp giảm áp lực cho ngân sách mà còn tạo điều kiện để các địa phương chủ động hơn trong triển khai.

Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác công trình thủy lợi cũng là một nội dung quan trọng. Các địa phương cần kiện toàn tổ chức quản lý từ cấp tỉnh đến cơ sở, xây dựng kế hoạch bảo trì dài hạn, tăng cường kiểm soát các hoạt động xả thải vào nguồn nước công trình. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý công trình được xem là xu hướng tất yếu trong giai đoạn tới.