Truy xuất nguồn gốc sầu riêng: Từ A - Z, nhưng…

Truy xuất nguồn gốc sầu riêng: Từ A - Z, nhưng…
Truy xuất nguồn gốc sầu riêng: Từ A - Z, nhưng…
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc sầu riêng theo chuỗi khép kín từ vùng trồng đến xuất khẩu. Dù ghi nhận những bước tiến số hóa ấn tượng sau hai tháng vận hành, thực tế triển khai vẫn đặt ra nhiều bài toán cần giải quyết từ hạ tầng, thói quen canh tác đến áp lực thị trường quốc tế.
48.000 sản phẩm cập nhật dữ liệu
Trong báo cáo mới nhất gửi Thủ tướng Chính phủ về kết quả xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sau gần 2 tháng chính thức vận hành, hệ thống đã ghi nhận gần 48.800 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm, của 19 doanh nghiệp thực hiện cập nhật dữ liệu.
Lũy kế toàn quốc, hệ thống đã tích hợp hơn 158.200 sản phẩm thuộc hơn 18.500 dòng sản phẩm từ hơn 200 doanh nghiệp cùng gần 3.000 hộ dân, hợp tác xã trải rộng trên 24/34 tỉnh, thành phố.
Về hạ tầng địa phương, hiện có 5 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Hưng Yên, Quảng Ninh và Đắk Lắk đã bảo đảm các điều kiện cần thiết để triển khai đồng bộ.
Về khả năng kết nối quốc gia, Bộ đã thống nhất kế hoạch liên thông với nền tảng do C12 (Bộ Công an) xây dựng, đồng thời hoàn tất kết nối kỹ thuật với cổng thông tin quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý.
Được thiết kế gồm 3 hợp phần chính (gồm cổng tra cứu công khai cho người dân tại txng.mae.gov.vn hoặc mae.txng.gov.vn, hệ thống quản trị nội bộ và ứng dụng di động), hệ thống theo kết quả kiểm thử có năng lực xử lý mạnh mẽ: đáp ứng khoảng 1.000 lượt tra cứu/giây, phục vụ 30.000 người quét tem đồng thời, chịu tải trên 85 triệu lượt quét mỗi ngày và xử lý khoảng 50 bản tin dữ liệu (dung lượng 2 MB/giây).
T****rọng tâm: Khép kín chuỗi giá trị sầu riêng
Sầu riêng vẫn là mặt hàng “hot” nhất, nên Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc sầu riêng theo chuỗi liên hoàn.
Theo đó, dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kết quả kiểm nghiệm, kiểm dịch thực vật sẽ được kết nối xuyên suốt với các lô hàng xuất khẩu.
Định hướng này dựa trên nguyên tắc "tạo lập dữ liệu một lần, sử dụng nhiều lần", kế thừa các nền tảng hiện có và tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp.
Và thực tế sau những con số
Dù những con số thống kê về số lượng sản phẩm hay năng lực kỹ thuật thể hiện sự nỗ lực lớn của cơ quan quản lý, nhưng thực tế còn nhiều vấn đề phải tháo gỡ.
Đó là, dù mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói liên tục được cấp phép, tại các thủ phủ sầu riêng trọng điểm (như khu vực Tây Nguyên), diện tích trồng xen canh lớn hoặc vướng mắc về thủ tục hành chính, xét duyệt tại địa phương đôi khi khiến tiến độ chưa bắt kịp nhu cầu thị trường.
Các thị trường nhập khẩu lớn ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn khắt khe về dư lượng hóa chất, kiểm dịch thực vật. Nguy cơ ách tắc tại cửa khẩu vẫn hiện hữu, nếu chất lượng nông sản thực tế tại vườn không đồng đều, hoặc xảy ra tình trạng gian lận thương mại, mượn mã số.
Dữ liệu, cổng vào nguồn đã có, nhưng thách thức lớn nhất vẫn là thay đổi tư duy của hàng vạn nông dân và hợp tác xã nhỏ lẻ trong việc cập nhật nhật ký canh tác điện tử, tránh tình trạng "trên khai báo một đằng, dưới làm một nẻo".
Thực tế thị trường cho thấy việc gia tăng số lượng mã số chưa chắc đồng nghĩa với việc giữ vững giá bán cho nông dân khi áp lực mùa vụ, thời tiết (mưa giông gây sượng trái, chín ép) và biến động nguồn cung từ các quốc gia lân cận tác động mạnh mẽ.
Ngoài việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thúc đẩy liên thông cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thì công tác rà soát, chuẩn hóa dữ liệu gốc phục vụ xác thực, đối soát cần được đặt lên hàng đầu.
Chỉ khi dữ liệu từ vườn trồng đến bàn ăn khớp nhau một cách tuyệt đối, ngành hàng sầu riêng nói riêng và nông sản Việt Nam nói chung mới có thể vượt qua các hàng rào kỹ thuật khắt khe, xây dựng thương hiệu bền vững.