Từ công nhân thành chủ trang trại chồn hương gần 1.000 con

Bắt đầu với 70 con chồn hương giống, sau 4 năm ‘nếm mật nằm gai’, anh Lê Văn Phước hoàn thiện quy trình kỹ thuật, mở rộng quy mô lên gần 1.000 con.
Tối ưu kỹ thuật từ những lần thất bại
Anh Lê Văn Phước (sinh năm 2001) lớn lên ở vùng quê thôn Đức Giang, xã Mai Hoa, tỉnh Hà Tĩnh. Học xong THPT, Phước vào Nam làm công nhân tại một công ty may ở Long Thành, Đồng Nai với thu nhập khoảng 8 - 9 triệu đồng/tháng. Đến năm 2021, Phước về quê tiếp tục làm công nhân tại công ty may mặc ở huyện Đức Thọ cũ. Tuy nhiên, làm công nhân thu nhập chỉ đủ trang trải những nhu cầu trước mắt, khó có thể tích lũy hay nghĩ đến tương lai dài hơi.
Anh bắt đầu ấp ủ, rẽ hướng nghề nghiệp. Cơ duyên trở thành triệu phú như hiện nay bắt đầu từ 4 năm trước (cuối năm 2022) khi anh làm công việc chăm sóc đàn chồn cho một người dân Hải Phòng.
Qua quá trình chăm sóc chồn, anh bắt đầu quan sát cách chọn giống, phối giống, chăm sóc con non và tổ chức chuồng trại. Nhận thấy đây là hướng có thể phát triển, anh quyết định về quê xây dựng mô hình riêng.
Khởi đầu bằng số tiền vay mượn 200 triệu, anh mua 70 con chồn giống về nuôi, song do thiếu kinh nghiệm, đàn chồn gặp nhiều vấn đề, trong đó có hiện tượng con nái sau khi sinh cắn con, không nuôi được, dẫn đến gần nửa số vốn đầu tư bị thiệt hại.
Thất bại buộc anh phải thay đổi cách làm. Thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm của người khác, anh tập trung quan sát từng cá thể, ghi nhận những vấn đề phát sinh trong quá trình nuôi và tìm nguyên nhân để điều chỉnh. Bởi chồn hương tính khí khác nhau, có con thuần, dễ chăm sóc, có con nhát hoặc khó tiếp cận. Đặc biệt, chồn sinh sản và chồn hậu bị cần được theo dõi kỹ để hạn chế rủi ro trong quá trình sinh sản.
“Nuôi lâu mới hiểu được tính từng con. Có con thuần thì chăm dễ, nhưng có con lạ người, khó chăm hơn. Những điều này phải làm thực tế mới rút được kinh nghiệm”, anh Phước chia sẻ.
Cùng với kỹ thuật chăm sóc, chuồng nuôi là một trong những hạng mục được anh dành nhiều thời gian cải tiến. Ban đầu chuồng thấp, làm bằng thép nên sau một thời gian bị hoen gỉ, việc bắt chồn và vệ sinh gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục, anh lựa chọn vật liệu khác, tháo dỡ, làm đi làm lại đến 3 lần mới đạt như ý muốn.
Khoảng cách giữa các ô chuồng cũng được điều chỉnh từ khoảng 30cm lên 50cm. Thay đổi này giúp người chăm sóc có không gian thao tác thuận lợi hơn, đồng thời dễ quan sát và kiểm soát đàn. Riêng nền chuồng phải thiết kế có độ dốc thay vì bằng phẳng, giúp nước và chất thải thoát nhanh, hạn chế tình trạng chất thải hoặc nước bẩn bắn lên chồn.
Một cải tiến khác mang lại hiệu quả rõ rệt là hệ thống khóa chuồng. Trước đây anh đầu tư khoảng 40 triệu đồng để lắp khóa cho toàn bộ 1.000 ô chuồng. Tuy nhiên chồn vẫn có thể tự mở khóa, trong khi thao tác đóng mở khi chăm sóc đàn mất nhiều thời gian. Sau quá trình thử nghiệm, anh thay hệ thống khóa bằng móc sắt đơn giản, chi phí chỉ khoảng 2 - 3 triệu đồng. Cách làm này vừa hạn chế chồn sổng chuồng, vừa thuận tiện khi chăm sóc, qua đó tiết kiệm gần 80% chi phí đầu tư cho hạng mục này.
“Hiện gần 1.000 con chồn được bố trí trong khoảng 1.000 ô chuồng, trên diện tích gần 400m2. Từ việc nhân công mất khoảng 3 - 4 giờ để hoàn thành việc cho ăn, vệ sinh và chăm sóc đàn chồn, nay thời gian rút xuống còn khoảng 2,5 giờ. Một thay đổi nhỏ nhưng với quy mô 1.000 chuồng, mỗi ngày tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí”, anh Lê Văn Phước nói.
Lợi nhuận khoảng 400 triệu đồng/năm
Từ đàn giống ban đầu, trang trại chồn hương của anh Phước đã mở rộng lên 3 khu nuôi, trong đó có một trại tầng với tổng đàn gần 1.000 con. Chi phí đầu tư riêng cho hệ thống chuồng trại khoảng 500 - 600 triệu đồng.
Mô hình được tổ chức theo hướng kết hợp chồn sinh sản, chồn hậu bị và chồn thương phẩm. Theo anh, chồn thương phẩm hiện có giá bán khoảng 1,5 - 1,8 triệu đồng/kg. Chồn hậu bị có giá 5 - 10 triệu đồng/cặp tùy thời điểm, chồn sinh sản khoảng 7 - 15 triệu đồng/con. Những con nái có khả năng sinh sản tốt được gọi là “siêu nái” có giá khoảng 10 - 15 triệu đồng/con. Sau khi trừ chi phí đầu tư, trang trại thu lợi nhuận bình quân khoảng 400 triệu đồng/năm.
Chủ trang trại phân tích, bài toán hiệu quả kinh tế không chỉ nằm ở giá bán mà còn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát giống, tỷ lệ sinh sản, tỷ lệ sống của con non, thức ăn, nhân công và chi phí chuồng trại. Mục tiêu cuối cùng là nâng hiệu quả trên cùng diện tích và giảm chi phí lao động.
Trang trại hộ anh Phước giải quyết việc làm cho 4 lao động thường xuyên với thu nhập từ 10 - 11 triệu đồng/người/tháng. Công việc được phân chia theo từng khâu, gồm vệ sinh chuồng trại, chuẩn bị thức ăn và chăm sóc đàn.
Sau khi xây dựng "bộ cẩm nang” kỹ thuật cho mình, thông qua mạng xã hội, anh Phước giới thiệu mô hình đến với người dân cả nước bằng các video ngắn. Nội dung chủ yếu xoay quanh kỹ thuật chăm sóc, thiết kế chuồng, những vấn đề gặp phải trong quá trình nuôi và cách anh xử lý. Một số video thu hút hơn 1 triệu lượt xem, giúp nhiều người biết đến mô hình và tìm đến tham quan, trao đổi kinh nghiệm.
“Tôi không nghĩ mình là người giỏi nhất hay chuyên gia. Tôi chỉ chia sẻ những gì mình đã làm. Cái gì chưa hiệu quả thì nói chưa hiệu quả, cái gì sửa rồi thấy tốt hơn thì chia sẻ lại”, anh Phước nói. Đồng thời cho rằng việc chia sẻ kinh nghiệm thực tế không chỉ giúp quảng bá mô hình mà còn tạo thêm mối liên hệ với những người cùng nghề. Khách hàng, người nuôi ở Hải Phòng, Nghệ An, Hà Nội và một số địa phương khác đã tìm đến trao đổi, tham quan trang trại.
Từ thực tế sản xuất, anh Phước đúc rút bài học, yếu tố quan trọng nhất để phát triển nghề nuôi chồn hương là phải nắm chắc kỹ thuật, đặc biệt là khâu chọn giống, chăm sóc đàn sinh sản, vệ sinh chuồng trại và kiểm soát chi phí. Quy mô càng lớn càng đòi hỏi người nuôi phải chuyển từ cách làm thủ công sang tổ chức sản xuất khoa học.
“Làm kinh tế phải tự học liên tục. Không biết thì hỏi, chưa làm được thì tìm hiểu, làm sai thì sửa. Nếu cứ làm theo một cách mà không chịu thay đổi thì rất khó đi xa”, chủ trang trại chia sẻ kinh nghiệm.
Lãnh đạo xã Mai Hoa đánh giá, mô hình khởi nghiệp nuôi chồn hương của anh Lê Văn Phước là tấm gương điển hình thanh niên vượt khó phát triển kinh tế. Từ một chàng trai chưa có nhiều kinh nghiệm, Phước đã từng bước xây dựng, nhân rộng được mô hình có quy mô, tạo việc làm cho lao động địa phương và có sự lan tỏa nhất định trong cộng đồng. Xã sẽ tiếp tục tạo điều kiện để mô hình phát triển bền vững hơn, đồng thời làm địa chỉ học tập kinh nghiệm, khuyến khích người dân trên địa bàn nhân rộng mô hình, góp phần nâng cao thu nhập cho bà con.
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.