Từ mùa thu 1945 đến khát vọng thời đại: [Bài 4] Cuộc đổi đời trên những cánh đồng
![Từ mùa thu 1945 đến khát vọng thời đại: [Bài 4] Cuộc đổi đời trên những cánh đồng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/800w/files/tungdd/2026/08/29/5701-mu-cang-chai-47-nongnghiep-135400.jpg)
Từ những cánh đồng chống đói sau ngày độc lập, đến nay nông nghiệp đã khẳng định là bộ phận quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước.
3 bước chuyển trong quá trình phát triển nông nghiệp Việt Nam
Khái quát 3 bước chuyển trong quá trình phát triển nông nghiệp Việt Nam 81 năm qua: Từ chống đói đến bảo đảm an ninh lương thực; Từ cơ chế sản xuất kế hoạch hóa, nặng về tự cấp đến sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường; Từ ưu tiên sản lượng đến chú trọng chất lượng, giá trị và phát triển xanh.
Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với nạn đói nghiêm trọng do hậu quả chiến tranh, thiên tai và nền sản xuất nông nghiệp kiệt quệ. Trong hoàn cảnh đó, khôi phục sản xuất, chống đói và bảo đảm đời sống nhân dân trở thành nhiệm vụ cấp bách. Các chủ trương tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm được triển khai rộng khắp.
Thực tiễn cách mạng thời kỳ đầu khi đất nước vừa giành được độc lập cho thấy một nguyên tắc có ý nghĩa lâu dài: độc lập phải gắn với bảo đảm đời sống nhân dân; sản xuất lương thực không chỉ đáp ứng nhu cầu thiết yếu mà còn góp phần củng cố nền độc lập mới giành được.
Trong các cuộc kháng chiến sau đó, nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng. Đồng ruộng vừa bảo đảm lương thực cho hậu phương, vừa cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến. Người nông dân, cùng các lực lượng ở hậu phương, đã góp phần duy trì sản xuất và tạo nguồn lực cho sự nghiệp bảo vệ đất nước.
Sau năm 1975, khôi phục sản xuất, bảo đảm lương thực và cải thiện đời sống là những nhiệm vụ trọng tâm. Công cuộc Đổi mới tạo bước chuyển quan trọng trong nông nghiệp khi cơ chế sản xuất từng bước thay đổi, tạo động lực để nông dân đầu tư, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường.
Từ mục tiêu chủ yếu là bảo đảm lương thực, nông nghiệp từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa. Giống mới được đưa vào thử nghiệm, triển khai. Hệ thống thủy lợi được mở rộng. Cơ giới hóa từng bước thay thế lao động thủ công. Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật canh tác và sau đó là công nghệ số góp phần thay đổi phương thức sản xuất.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam là một yếu tố quan trọng trong giảm nghèo và bảo đảm an ninh lương thực. Việt Nam hiện thuộc nhóm các nước có mức cung ứng lương thực bình quân đầu người cao trong nhóm các nước thu nhập trung bình, đồng thời là nước xuất khẩu lớn về gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, tôm và nhiều mặt hàng khác.
Đằng sau những thành tựu đó là sự thay đổi căn bản của phương thức sản xuất. Không chỉ quan tâm đến năng suất, mà ngày càng chú trọng chất lượng, thị trường và hiệu quả kinh tế. Thửa ruộng từ nơi sản xuất lương thực cho gia đình trở thành một mắt xích trong chuỗi sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Đây là một chuyển biến có ý nghĩa kinh tế và xã hội sâu sắc.
Trong quá trình phát triển, lúa gạo giữ vị trí đặc biệt. Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu khoảng 9,18 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 5,75 tỷ USD. Năm 2025, mặc dù giá gạo thế giới giảm mạnh, Việt Nam vẫn xuất khẩu khoảng 8,06 triệu tấn, đạt 4,1 tỷ USD và duy trì vị trí một trong những nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Yêu cầu phát triển mới cho thấy sản lượng không còn là tiêu chí duy nhất.
Khi thị trường ngày càng coi trọng chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường, nông nghiệp phải chuyển từ tư duy sản xuất nhiều về số lượng, sang tạo ra giá trị cao hơn trên cùng một đơn vị đất, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao thu nhập cho nông dân. Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 là một ví dụ tiêu biểu.
Trọng tâm của Đề án không chỉ là mở rộng diện tích, còn đổi mới phương thức sản xuất: Giảm lượng giống gieo sạ, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Sử dụng nước hiệu quả. Đẩy mạnh cơ giới hóa. Tổ chức lại sản xuất và liên kết nông dân với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị. Sau hơn hai năm triển khai, diện tích thực hiện đạt 354.839 ha, bằng 197% mục tiêu giai đoạn đầu.
Các mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả trong giảm chi phí đầu vào, tăng thu nhập và thúc đẩy sản xuất lúa theo hướng chất lượng, xanh và phát thải thấp. Về bản chất, đây không chỉ là sự thay đổi kỹ thuật mà là sự chuyển đổi tư duy sản xuất: Làm ra sản phẩm chất lượng cao hơn, với chi phí thấp hơn, giảm tác động môi trường và nâng cao giá trị cho người sản xuất.
Ngân hàng Thế giới gọi hướng tiếp cận này là “growing more with less” - tạo ra nhiều hơn với nguồn lực ít hơn. Các mô hình canh tác mới ở Việt Nam cho thấy khả năng đồng thời giảm chi phí đầu vào, tăng lợi nhuận, tiết kiệm nước và giảm phát thải khí nhà kính.
Tiêu chí cuối cùng của quá trình chuyển đổi vẫn là lợi ích của người nông dân. Sản xuất nông nghiệp chỉ thực sự bền vững khi người trồng trọt có thể nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống ngay trên chính mảnh đất của mình.
Nông nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng
Không chỉ dựa vào cây lúa, nông nghiệp Việt Nam đã hình thành hệ thống sản xuất đa dạng, từ sầu riêng, cà phê Tây Nguyên, cây ăn quả Nam Bộ, chè trung du và miền núi phía Bắc đến nuôi trồng thủy sản ven biển. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70,09 tỷ USD, tăng 12%, là mức cao nhất từ trước đến nay. Xuất siêu đạt khoảng 20,7 tỷ USD.
Nhiều ngành hàng như cà phê, rau quả, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục mở rộng thị trường. Những kết quả này cho thấy nông nghiệp đã vượt khỏi chức năng bảo đảm lương thực trong nước để trở thành một ngành kinh tế có năng lực tạo giá trị, tham gia sâu vào thương mại quốc tế, đóng góp quan trọng vào vị thế kinh tế của Việt Nam.
Như đã khái quát về 3 bước chuyển trong quá trình phát triển nông nghiệp Việt Nam 81 năm qua: Từ chống đói đến bảo đảm an ninh lương thực; Từ cơ chế sản xuất kế hoạch hóa, nặng về tự cấp đến sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường; Từ ưu tiên sản lượng đến chú trọng chất lượng, giá trị và phát triển xanh, bước chuyển thứ ba đặt ra yêu cầu cao hơn, bắt nhịp cùng thị trường thế giới ngày càng “khó tính”, ngoài quan tâm chất lượng sản phẩm, còn chú ý nguồn gốc, an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất, mức sử dụng nước và phân bón, phát thải môi trường…
Tuy nhiên, theo các kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vẫn còn những hạn chế như tăng trưởng chưa thật bền vững, năng suất và sức cạnh tranh của một số sản phẩm chưa cao, ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi xanh còn hạn chế; thu nhập của một bộ phận nông dân còn thấp và môi trường nông thôn ở một số nơi chưa được cải thiện tương xứng.
Nhận diện đầy đủ những hạn chế này không phủ nhận thành tựu đã đạt được, mà tạo cơ sở để quá trình chuyển đổi tiếp tục đi vào chiều sâu. Mục tiêu của phát triển nông nghiệp, không chỉ là gia tăng sản lượng, mà là xây dựng một nền nông nghiệp hiệu quả hơn, xanh hơn, hiện đại hơn. Xây dựng nông thôn trở thành nơi đáng sống và bảo đảm để người nông dân có thể sống tốt bằng nghề nông.
Xanh hơn để đi xa hơn
Năm 1945, đất nước vừa giành độc lập phải tập trung giải quyết vấn đề lương thực. Ngày nay, Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn đưa nông sản ra thị trường thế giới. Từ những cánh đồng từng mang nhiệm vụ chống đói, nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới những sản phẩm kết tinh tri thức, công nghệ, trách nhiệm môi trường và năng lực cạnh tranh.
Lịch sử 81 năm của nông nghiệp Việt Nam không chỉ là lịch sử gia tăng sản lượng, mà là lịch sử của những cuộc chuyển đổi mô hình: Từ cứu đói sang bảo đảm lương thực. Từ sản xuất theo kế hoạch sang kinh tế hàng hóa. Từ tăng sản lượng sang nâng giá trị, và hiện nay, từ khai thác tài nguyên sang sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Xanh không chỉ để giảm phát thải. Xanh phải giúp người nông dân giảm chi phí, tăng thu nhập và giảm rủi ro. Xanh hơn để đi xa hơn, không chỉ là một khẩu hiệu, mà là định hướng phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.