Việt Nam – Hà Lan: 'Tương lai nuôi trồng thủy sản không đo bằng sản lượng'

Tại The Hague, đoàn đại biểu ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam làm việc với Bộ Nông nghiệp, Thủy sản, An ninh lương thực và Thiên nhiên Hà Lan. Hai bên cùng một thông điệp tương lai của ngành không đo bằng sản lượng, mà bằng mức độ có trách nhiệm trong cách sản xuất.
Sáng 31.8 (giờ địa phương), đoàn đại biểu ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam đã có buổi làm việc với Bộ Nông nghiệp, Thủy sản, An ninh lương thực và Thiên nhiên cùng Bộ Ngoại giao Hà Lan. Đây là hoạt động mở đầu chuyến công tác kéo dài một tuần của đoàn tại Hà Lan, trong đó có việc tham dự Diễn đàn Tôm toàn cầu 2026 tại Utrecht từ ngày 1 – 3.9.
Về phía Việt Nam, trưởng đoàn là ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ NN-MT), cùng đại diện Vụ Hợp tác quốc tế của bộ này. Đoàn cũng có sự tham gia của lãnh đạo nhiều địa phương trọng điểm về thủy sản như Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử, Phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Trúc Sơn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Trịnh Minh Hoàng.
Cùng đi còn có lãnh đạo Trường ĐH Cần Thơ, ĐH Nha Trang, ĐH Trà Vinh; đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Hội Thủy sản Việt Nam (VINAFIS), Liên minh tôm sạch và bền vững (VSSA), cùng nhiều doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu tôm và cung ứng đầu vào.
"Thách thức vượt khỏi biên giới quốc gia"
Phát biểu chào mừng đoàn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, Thủy sản, An ninh lương thực và Thiên nhiên Hà Lan Mark Roscam nói, ngành nuôi trồng thủy sản hiện đóng vai trò then chốt đối với an ninh lương thực toàn cầu, dinh dưỡng và phát triển kinh tế, có thể cung cấp nguồn đạm thủy sản ổn định, chất lượng cao và được sản xuất tại địa phương.
Nhưng ông cũng chỉ ra hàng loạt thách thức mà ngành đang đối mặt, nổi bật là biến đổi khí hậu, khan hiếm nguồn nước gia tăng, dịch bệnh bùng phát, áp lực môi trường và kỳ vọng thay đổi của người tiêu dùng. "Đây là những thách thức vượt khỏi biên giới quốc gia, chúng ta cần phải hợp tác để tìm ra lời giải. Đó là lý do tại sao mối quan hệ đối tác như giữa Việt Nam và Hà Lan lại có giá trị lớn đến vậy", Thứ trưởng Roscam nói.
Theo Thứ trưởng Roscam, những thành tựu trong nuôi tôm, cá tra và nuôi biển đã định vị Việt Nam là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Đóng góp của Hà Lan mang tính bổ trợ. Ngành nuôi trồng thủy sản Hà Lan phát triển xoay quanh đổi mới, công nghệ và tri thức, với đầu tư mạnh vào các chương trình chọn giống, dinh dưỡng, sức khỏe thủy sản, quản lý chất lượng nước, hệ thống tuần hoàn (RAS) và các công nghệ giám sát số.
"Chúng tôi tin rằng tương lai của ngành nuôi trồng thủy sản sẽ không chỉ được định hình bởi sản lượng cao hơn, mà sẽ được định hình bởi sản xuất bền vững khi sử dụng ít nước hơn, ít năng lượng hơn, phát thải thấp hơn", ông nói.
Ông cho biết để đạt được sự cân bằng này, Hà Lan dựa vào mô hình hợp tác được gọi là "Kim cương Hà Lan" (Dutch Diamond) với sự phối hợp giữa chính phủ, nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất, trong đó các trường đại học như Wageningen, các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước cùng chuyển hóa tri thức khoa học thành giải pháp thực tiễn cho người nuôi.
"Trao đổi tri thức có lẽ là nguồn tài nguyên chung quý giá nhất của chúng ta. Tương lai của ngành nuôi trồng thủy sản sẽ không chỉ phụ thuộc vào việc chúng ta sản xuất được bao nhiêu, mà phụ thuộc vào việc chúng ta sản xuất có trách nhiệm như thế nào", Thứ trưởng Roscam nói, và nhấn mạnh: "Chúng ta không bao giờ nên đánh giá thấp giá trị của việc kết hợp những thế mạnh tương hỗ giữa hai bên. Cùng nhau, chúng ta có thể tạo ra những cơ hội mà không bên nào có thể tự mình đạt được".
Ba chuyển dịch và mục tiêu 7 triệu tấn
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ NN-MT), nói ông hoàn toàn chia sẻ thông điệp của Thứ trưởng Roscam, rằng tương lai của nuôi trồng thủy sản không nên chỉ được đo bằng sản lượng, mà bằng mức độ có trách nhiệm, hiệu quả và bền vững trong cách sản xuất. Theo ông Luân, qua nhiều thập niên, Việt Nam đã xây dựng được một ngành nuôi trồng thủy sản có năng lực cạnh tranh toàn cầu, đặc biệt ở tôm và cá tra. Tuy nhiên, giai đoạn phát triển tiếp theo đòi hỏi một sự dịch chuyển căn bản trên ba hướng. Cụ thể là từ mở rộng sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; từ nuôi trồng lạm dụng tài nguyên sang sản xuất tiết kiệm tài nguyên; và từ cạnh tranh dựa trên sản lượng sang cạnh tranh dựa trên giá trị.
"Tham vọng của chúng tôi không đơn thuần là sản xuất nhiều thủy sản hơn. Đó là tạo ra nhiều giá trị hơn từ sản xuất bền vững", Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nói. Ông Luân cũng cho biết đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đạt sản lượng nuôi trồng thủy sản khoảng 7 triệu tấn, song mục tiêu này phải đi cùng với bảo vệ môi trường tốt hơn, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn và khả năng chống chịu tốt hơn trước biến đổi khí hậu.
"Với Việt Nam, bền vững không còn là một mục tiêu bổ sung. Nó đang trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh", ông Luân nhấn mạnh và cho biết Việt Nam đang thúc đẩy nuôi công nghệ cao, hệ thống tuần hoàn tiết kiệm nước và nuôi sinh thái tích hợp, đồng thời đặt trọng tâm vào an toàn sinh học và phòng chống dịch bệnh, những yếu tố đặc biệt quan trọng với con tôm.
Về đổi mới sáng tạo, ông Luân nói Việt Nam nhìn thấy cơ hội lớn ở giám sát thời gian thực, cảm biến, phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để giúp người nuôi phát hiện rủi ro sớm hơn. "Nhưng công nghệ thôi là chưa đủ. Đổi mới sáng tạo phải được kết nối với thực tế của người nuôi và doanh nghiệp", ông Luân chia sẻ.
Nói về thích ứng khí hậu, Cục trưởng Trần Đình Luân cho biết ĐBSCL ngày càng chịu tác động của xâm nhập mặn, hạn hán, sốc nhiệt, mưa cực đoan, biến động chất lượng nước và các dịch bệnh mới nổi. Nhưng tiềm năng của mô hình tôm – rừng ngập mặn, tôm - lúa và các mô hình nuôi dựa vào hệ sinh thái, nơi bảo tồn môi trường và sinh kế người nuôi có thể hỗ trợ lẫn nhau.
"Với chúng tôi, thích ứng khí hậu không chỉ là bảo vệ sản xuất trước các rủi ro khí hậu. Đó là việc thiết kế lại hệ thống sản xuất sao cho có sức chống chịu tốt hơn, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn và bền vững hơn trong dài hạn", ông nói. Theo ông Luân, trong bối cảnh thị trường quốc tế yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, phát thải carbon, sử dụng tài nguyên và trách nhiệm xã hội, đây không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để nâng cấp ngành, giúp người nuôi và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, đề xuất trọng tâm từ phía Việt Nam là phát triển hợp tác từ các dự án riêng lẻ hướng tới quan hệ đối tác dài hạn, với sáu lĩnh vực ưu tiên bao gồm quản lý nước và công nghệ tiết kiệm nước; hệ thống nuôi tuần hoàn và sử dụng hiệu quả tài nguyên; giám sát số và canh tác dựa trên dữ liệu; chất lượng giống, dinh dưỡng, sức khỏe động vật thủy sản và an toàn sinh học; sản xuất thích ứng khí hậu; kinh tế tuần hoàn và các giải pháp giảm phát thải.
Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Trúc Sơn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long, cho biết tỉnh hiện có khoảng 73.600 ha nuôi tôm nước lợ, sản lượng khoảng 344.200 tấn, và đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 75.300 ha với sản lượng 428.800 tấn, trong đó khoảng 10.000 ha nuôi công nghệ cao. Tuy vậy, mới khoảng 10% diện tích nuôi tôm của tỉnh đạt chứng nhận VietGAP, GlobalGAP và ASC, và đến nay chưa có doanh nghiệp Hà Lan nào đầu tư vào chế biến thủy sản trên địa bàn. Ông Sơn kỳ vọng, đây chính là dư địa để Vĩnh Long hợp tác với Hà Lan trong quản lý nguồn nước, kiểm soát môi trường vùng nuôi, gia ứng dụng nuôi tôm công nghệ cao có kiểm soát, công nghệ chế biến sâu và phát triển chuỗi giá trị ngành tôm.
Đối tác kinh tế xanh, đôi bên cùng có lợi
Phát biểu tại cuộc họp, ông Michiel van der Pompe, đại diện Vụ Phát triển kinh tế bền vững, Bộ Ngoại giao Hà Lan, đặt hợp tác thủy sản song phương trong bối cảnh rộng hơn của chính sách đối ngoại. "Trong một thế giới đang chứng kiến những căng thẳng địa chính trị ngày càng gia tăng, những sức ép đối với chuỗi giá trị quốc tế và sự phụ thuộc kinh tế ngày càng lớn, Hà Lan vẫn kiên định với cam kết thúc đẩy hợp tác quốc tế mang lại lợi ích cho tất cả các bên", ông nói, và đánh giá quan hệ đối tác Việt Nam – Hà Lan là một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận này.
Theo ông van der Pompe, Hà Lan kết hợp các công cụ hợp tác phát triển, thương mại và ngoại giao kinh tế, với mục tiêu rõ ràng là xây dựng những quan hệ đối tác kinh tế xanh, các bên cùng có lợi, tập trung vào ba lĩnh vực Hà Lan có thế mạnh và cũng có thể học hỏi từ đối tác, gồm nông nghiệp – thực phẩm, nước và logistics.
Ông cho rằng chương trình Combi-Track - chuyển đổi hướng tới nuôi trồng thủy sản bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long chính là nơi các chiến lược đó tạo ra tác động kinh tế thực tế, khi huy động được cả khối công và khối tư của hai nước cùng phát triển những đổi mới "không chỉ vững chắc về mặt kỹ thuật mà còn khả thi về kinh tế và có trách nhiệm với môi trường".
Phần tổng kết chương trình Combi-Track do ông Massimo Lindeman, chuyên gia phát triển khu vực tư nhân thuộc Cục Doanh nghiệp Hà Lan (RVO), thông tin, trong 3 năm, hai nước đã triển khai 35 hoạt động và dự án trong khuôn khổ này. Chương trình được thiết kế theo một khung tác động chung, với mục tiêu bao trùm là phát triển bền vững về môi trường, xã hội và kinh tế cho ngành nuôi trồng thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long, thông qua cải thiện phương thức nuôi, chuỗi giá trị và quản lý nước, áp dụng các giải pháp thuận thiên và xây dựng quan hệ đối tác công – tư dựa trên chuyên môn của hai nước. Khung này hướng tới ba nhóm kết quả dài hạn gồm thúc đẩy chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; tạo việc làm thỏa đáng và tăng trưởng kinh tế bền vững và củng cố vị thế thương mại, đầu tư giữa hai nước. Điểm mấu chốt, theo ông Lindeman, là các dự án không đứng riêng lẻ mà kết nối với nhau như những mắt xích, nhờ đó tạo ra cơ hội hợp tác tốt hơn và một chuỗi giá trị mạnh hơn.
Ông Massimo Lindeman cũng đúc kết ba lý do khiến chương trình thành công đó là được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế, xác định qua một đoàn công tác của Hà Lan sang Việt Nam rồi một đoàn của Việt Nam sang Hà Lan; kết nối được cả khối công và khối tư; và là một chương trình dài hạn chứ không phải tập hợp các dự án nhỏ lẻ.
Combi-Track hình thành từ ý tưởng năm 2022 và bắt đầu triển khai từ năm 2023. Bên cạnh các dự án như ShrimpTech, DeltaVax, TomGoxy Zero, AquaGene, DeltaCare và MACIB, chương trình còn có các cấu phần về nghiên cứu ruồi lính đen làm nguồn đạm thay thế, trung tâm chia sẻ tri thức do Nuffic phụ trách, hợp phần xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường EU do CBI thực hiện, cùng giai đoạn 2.0 của chiến dịch Empower Youth4Food…
"Quan trọng là chúng ta biết nhau"
Phát biểu bế mạc, ông Peter Paul Mertens, Giám đốc Cục Thủy sản Hà Lan nhắc lại rằng hợp tác nông nghiệp Việt Nam – Hà Lan đã kéo dài 12 năm kể từ khi hai bên ký thỏa thuận hợp tác chiến lược năm 2014, và mối quan hệ đó không chỉ ở cấp chính phủ mà còn giữa các doanh nghiệp, thể hiện qua chính sự có mặt đông đảo của đoàn Việt Nam. Ông khẳng định ĐBSCL vẫn là địa bàn ưu tiên của Hà Lan, với các hướng hoạt động về phúc lợi động vật thủy sản, giảm sử dụng kháng sinh và tăng khả năng thích ứng của ngành với biến đổi khí hậu. Một điểm ông nhấn mạnh nữa là bên cạnh chia sẻ tri thức và đổi mới sáng tạo, điều quan trọng là các bên biết nhau và thiết lập được mối quan hệ lâu dài, bền vững.
Việt Nam và Hà Lan duy trì quan hệ ngoại giao hơn 50 năm, với lịch sử thương mại hơn 400 năm. Hai nước hợp tác chiến lược thông qua Thỏa thuận Đối tác chiến lược về Nông nghiệp bền vững và An ninh lương thực, cùng Thỏa thuận Đối tác chiến lược về Quản lý nước và Biến đổi khí hậu.
Là hai quốc gia có đồng bằng châu thổ, Việt Nam và Hà Lan chia sẻ mối quan tâm chung trong việc gìn giữ và phát huy tiềm năng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trước các thách thức khí hậu. Nổi bật là các dự án trong khuôn khổ Combi-Track được thiết kế phù hợp với cam kết của Chính phủ Việt Nam về chuyển đổi sang hướng phát triển xanh, ít carbon, với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Chiều 31.8, đoàn công tác di chuyển đến Wageningen làm việc với Trường ĐH và Viện Nghiên cứu Wageningen (WUR), tham quan cơ sở nghiên cứu thủy sản Carus-ARF.