Vĩnh Long chuyển từ tăng sản lượng sang tạo giá trị

Trước dư địa tăng sản lượng thu hẹp, Vĩnh Long yêu cầu ngành nông nghiệp chuyển sang kinh tế giá trị cao, đẩy nhanh quy hoạch và liên kết chuỗi.
Nông nghiệp vẫn là khu vực giữ vai trò nền tảng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Vĩnh Long sau sắp xếp đơn vị hành chính. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, chi phí đầu vào tăng và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, địa phương đang đặt mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng - từ mở rộng sản lượng sang gia tăng giá trị.
Tăng trưởng nhưng dư địa cũ đang thu hẹp
Theo báo cáo của ngành, giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 48,12% kế hoạch năm, tăng 3,38% so cùng kỳ; trong đó nông nghiệp tăng 2,35%, thủy sản tăng 5,2%. Giá trị sản xuất toàn ngành đạt khoảng 104,65% so với kịch bản tăng trưởng đã xây dựng.
Sản xuất tiếp tục duy trì quy mô lớn với diện tích gieo trồng lúa lũy kế hơn 257.000 ha, sản lượng khoảng 2,2 triệu tấn; diện tích cây lâu năm đạt gần 226.000 ha; diện tích sản xuất hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao vượt 81.400 ha. Toàn tỉnh hiện có 1.006 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu.
Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục duy trì kết quả tích cực với 98/105 xã đạt chuẩn; tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh khu vực nông thôn đạt 99,7%, tỷ lệ sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn đạt 87,2%.
Tuy nhiên, nhiều chỉ dấu cho thấy mô hình tăng trưởng dựa trên sản lượng đang gặp giới hạn. Giá vật tư đầu vào tăng, đầu ra một số nông sản thiếu ổn định; sản xuất còn phân tán; liên kết chuỗi chưa chặt; hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu và chế biến còn thiếu đồng bộ. Trong khi đó, áp lực từ hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng lớn.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Châu Văn Hòa nhận định nếu tiếp tục phát triển theo tư duy tối đa hóa sản lượng thì nhiều ngành hàng đã gần chạm ngưỡng tăng trưởng.
Theo ông Hòa, yêu cầu đặt ra hiện nay là chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp - nơi giá trị gia tăng, thương hiệu, công nghệ và thị trường quyết định hiệu quả phát triển.
Tái cấu trúc theo vùng sản xuất và chuỗi giá trị
Từ định hướng trên, lãnh đạo tỉnh yêu cầu ngành Nông nghiệp và Môi trường rà soát lại toàn bộ quy hoạch phát triển theo hướng xác lập rõ vùng trồng, vùng nuôi và hạ tầng đi kèm.
Các vùng sản xuất phải được gắn với quy hoạch thủy lợi, giao thông, điện, cấp thoát nước, logistics và hạ tầng môi trường; đồng thời hình thành vùng nguyên liệu đủ quy mô cho chế biến và xuất khẩu.
Một số mục tiêu cụ thể cũng được đặt ra như nâng tỷ lệ dừa hữu cơ trên tổng diện tích hơn 121.000 ha của tỉnh lên khoảng 60%; hoàn thiện hệ thống mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; xây dựng năng lực kiểm nghiệm nông sản ngay tại địa phương nhằm rút ngắn thời gian xuất khẩu.
Theo lãnh đạo UBND tỉnh, hiện việc thiếu cơ sở kiểm nghiệm đang khiến doanh nghiệp phải gửi mẫu ngoài tỉnh, kéo dài thời gian chờ kết quả đối với nhiều chỉ tiêu kỹ thuật phục vụ xuất khẩu.
Chủ tịch UBND tỉnh Trần Trí Quang đồng thời yêu cầu ngành thay đổi cách tiếp cận đối với tăng trưởng.
Theo ông Quang, nếu chỉ dựa vào số liệu sản lượng nhân với giá cố định sẽ khó phản ánh đầy đủ chất lượng tăng trưởng. Vì vậy, ngành cần kiểm soát chặt phương pháp thống kê, chuẩn hóa dữ liệu và chủ động chuyển sang mô hình phát triển dựa trên giá trị gia tăng.
“Tăng trưởng nông nghiệp thời gian tới phải đi cùng cơ cấu lại cây trồng, vật nuôi, mở rộng chế biến sâu và nâng tỷ trọng giá trị tạo ra trên cùng đơn vị sản xuất”, ông Quang nhấn mạnh.
Đặt nền cho chu kỳ phát triển mới
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Văn Tân cho biết sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, toàn ngành hiện đang thực hiện 462 đầu việc; trong đó cấp tỉnh phụ trách 389 đầu việc và cấp xã thực hiện 73 đầu việc.
Ngành xác định tiếp tục lấy chuỗi giá trị làm hướng phát triển trọng tâm, trước mắt phát huy kết quả từ ngành hàng dừa để nhân rộng sang các nhóm sản phẩm khác; đồng thời thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, công nghệ chế biến và nâng giá trị thương hiệu.
Cùng với đó, ngành đề xuất nhiều định hướng dài hạn như xây dựng trung tâm ngân hàng giống, nghiên cứu ngân hàng cát, triển khai đề án lấn biển, hoàn thiện dữ liệu đất đai sau sáp nhập và xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đất phục vụ sản xuất, xuất khẩu.
Kết luận cuộc làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Lâu yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, khoáng sản và môi trường; rà soát đất công, đất bãi bồi ven biển, đất nông trường và chuẩn hóa dữ liệu quản lý.
Đối với khai thác tài nguyên, đặc biệt là cát lòng sông, lãnh đạo tỉnh yêu cầu siết chặt đánh giá tác động môi trường, tránh ảnh hưởng dòng chảy và gia tăng nguy cơ sạt lở.
Một nội dung được lưu ý là ngành nông nghiệp cần rà soát thực trạng nuôi đuông dừa tại một số khu vực, đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế và tác động đối với vùng nguyên liệu trước khi đề xuất giải pháp quản lý phù hợp.
Bí thư Tỉnh ủy đồng thời yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện ngành Nông nghiệp và Môi trường, tăng ứng dụng khoa học công nghệ nhằm giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm tài nguyên và nâng hiệu quả kinh tế.
Đối với môi trường, tỉnh yêu cầu đẩy nhanh các dự án xử lý chất thải quy mô lớn, đồng thời đặc biệt quan tâm khu vực bãi rác An Hiệp nhằm chủ động phương án ứng phó trong mùa mưa.
Song song đó, tỉnh đang xây dựng chương trình hành động triển khai Kết luận 26 nhằm tăng cường năng lực ứng phó sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn trong giai đoạn tới.
Đối với xây dựng nông thôn mới và OCOP, lãnh đạo tỉnh cho rằng địa phương còn dư địa lớn nhưng cần đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng thương mại, trung tâm giới thiệu sản phẩm và các nền tảng giao dịch để mở rộng đầu ra.
Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Lâu yêu cầu tiếp tục rà soát tổ chức bộ máy, phân cấp phù hợp với năng lực thực thi, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu để hướng tới mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững.