Xây dựng thương hiệu nông sản Việt vươn tầm quốc tế - Tạp chí Kinh tế

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt vươn tầm quốc tế
Thứ năm 16/07/2026 13:45
e-ISSN 3093-3501
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong nửa đầu năm 2026, song để chinh phục các thị trường cao cấp, doanh nghiệp Việt không thể chỉ dựa vào lợi thế thuế quan từ các FTA. Từ tiêu chuẩn xanh, chế biến sâu, minh bạch chuỗi cung ứng đến xây dựng thương hiệu và khai thác thương mại điện tử xuyên biên giới được xác định là những mắt xích quan trọng để nâng cao giá trị nông sản Việt trên thị trường quốc tế.
| Xuất khẩu nông sản qua cửa khẩu biên giới đường bộ. Ảnh: T.H |
Hội nhập sâu nhưng phải vượt qua các “hàng rào” mới
Ngày 16/7, tại Hội nghị “Nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế về ngành hàng Lương thực – thực phẩm và sản phẩm nông nghiệp sau chế biến” do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp với Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh (FFA) tổ chức, các chuyên gia đã chỉ ra những điểm nghẽn trong quá trình hội nhập, đồng thời đề xuất lộ trình nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng thương hiệu nông sản Việt trên thị trường toàn cầu.
Theo bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc ITPC, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực khi kim ngạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước.
Riêng TP. Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu của ngành chế biến lương thực, thực phẩm khi chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành tăng 12% trong quý I, góp phần đưa GRDP của Thành phố tăng 8,27% – mức cao nhất trong vòng 5 năm qua.
Theo bà Hồ Thị Quyên, việc Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở ra không gian thị trường rộng lớn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, ưu đãi thuế quan chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp đáp ứng được hệ thống tiêu chuẩn ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu.
Điều đó đồng nghĩa với việc cạnh tranh hiện nay không còn dừng ở giá bán hay chất lượng sản phẩm mà đã mở rộng sang khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội.
Làm rõ hơn xu hướng này, Tiến sĩ Hoàng Văn Việt, Nhà sáng lập và Chủ tịch Hội đồng Chiến lược Cộng đồng Doanh nhân Trí thức Toàn cầu (GIBA), cho rằng tiêu chuẩn xanh không còn mang tính hình thức mà đã trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp.
Theo ông, người tiêu dùng tại các thị trường phát triển không chỉ quan tâm đến các cam kết phát triển bền vững mà còn yêu cầu doanh nghiệp phải có dữ liệu minh chứng cụ thể cho những cam kết đó.
Để đáp ứng yêu cầu này, doanh nghiệp cần xây dựng chuỗi giá trị đồng bộ, bắt đầu từ việc kiểm soát chất lượng vùng nguyên liệu, ứng dụng công nghệ trong chế biến sâu tại nhà máy cho tới thương mại hóa sản phẩm trên thị trường.
Trong khi đó, bà Trần Thị Phương Hoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh (FFA) cho rằng, thương mại quốc tế đang chứng kiến sự thay đổi rõ rệt trong hành vi tiêu dùng.
Nếu trước đây người mua chủ yếu quan tâm đến sản phẩm cuối cùng thì hiện nay họ còn chú trọng tới toàn bộ quy trình tạo ra sản phẩm. Minh bạch, trách nhiệm với cộng đồng và cam kết phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chí quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu.
Khắc phục hạn chế sau thu hoạch
Bên cạnh các yêu cầu về tiêu chuẩn, nhiều chuyên gia cũng chỉ ra những hạn chế nội tại của ngành nông nghiệp Việt Nam. Theo Thạc sĩ Nguyễn Lý Trường An, Phó Giám đốc Công ty TNHH Vận chuyển Thương mại Biển Xanh, năm 2025 xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đã vượt mốc 70 tỷ USD. Tuy nhiên, giá trị gia tăng của ngành vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Một trong những nguyên nhân là tỷ lệ chế biến sâu hiện mới đạt khoảng 23%. Đối với ngành cà phê, khoảng 91% sản lượng vẫn xuất khẩu dưới dạng thô, khiến doanh nghiệp chưa khai thác được giá trị gia tăng từ khâu chế biến.
| Chuyên gia chia sẻ thông tin về xuất khẩu nông sản |
Không chỉ vậy, tỷ lệ hao hụt rau quả sau thu hoạch hiện còn ở mức 20-30%, trong khi các rào cản phi thuế quan ngày càng gia tăng cũng tạo thêm áp lực đối với hoạt động xuất khẩu.
Theo ông Nguyễn Lý Trường An, việc nâng cao năng lực chế biến sâu không chỉ giúp giảm thất thoát sau thu hoạch mà còn là giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm và tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ở góc độ hội nhập, Thạc sĩ Đặng Bùi Khuê, Cố vấn cấp cao Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo SMP, cho rằng nhiều doanh nghiệp vẫn có tâm lý tập trung vào lợi thế thuế quan của Hiệp định CPTPP, trong khi những thách thức lớn nhất lại đến từ các hàng rào kỹ thuật.
Theo ông, CPTPP không chỉ quy định về kiểm dịch động thực vật hay các tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn đặt ra yêu cầu về quyền lao động theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn nguyên liệu hợp pháp.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chuẩn bị nguồn lực tài chính phù hợp để đáp ứng các yêu cầu kiểm nghiệm, chứng nhận quốc tế nếu muốn duy trì lợi thế cạnh tranh tại các thị trường thành viên.
Bên cạnh việc đáp ứng tiêu chuẩn, xây dựng thương hiệu được xem là mắt xích quan trọng để nâng cao giá trị nông sản Việt.
Theo bà Nguyễn Lê Gia Khánh, Quản lý Tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam, Việt Nam hiện dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản nhưng thương hiệu của doanh nghiệp trong nước vẫn chưa được nhận diện rõ ràng do phần lớn sản phẩm được phân phối thông qua các nhà nhập khẩu hoặc hệ thống bán lẻ nước ngoài.
Để thay đổi điều này, doanh nghiệp có thể tận dụng thương mại điện tử xuyên biên giới nhằm bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng toàn cầu theo mô hình B2C, qua đó chủ động xây dựng thương hiệu và tiếp cận trực tiếp dữ liệu khách hàng.
| Cần xây dựng thương hiệu cho nông sản xuất khảu. Ảnh: T.H |
Chỉ ra một số hạn chế cần khắc phục, ông Lê Châu Hải Vũ, Giám đốc Công ty Cổ phần Dịch vụ Tư vấn doanh nghiệp ConsulTech cho biết, hiện nay, 97% doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xét trên mặt bằng chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu về nguồn lực, vốn, công nghệ, kỹ thuật và tiêu chuẩn. Họ muốn đi xa nhưng lại thiếu những hỗ trợ cần thiết. Mặc dù Chính phủ đã có nhiều chương trình hỗ trợ nhưng bản thân doanh nghiệp lại chưa đáp ứng được, đặc biệt là nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó, vẫn còn những điểm nghẽn, đặc biệt là vấn đề an toàn thực phẩm và tuân thủ quy định. Khi bán hàng ra quốc tế, doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ luật chơi của quốc tế; và về lâu dài, đó là yếu tố để phát triển bền vững tự thân của doanh nghiệp.
Từ thực tế trên, các chuyên gia nhận định, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt không còn nằm ở sản lượng hay ưu đãi thuế quan, mà phụ thuộc vào khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, phát triển chế biến sâu, minh bạch chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu. Đây cũng là những yếu tố then chốt để nông sản Việt từng bước nâng cao giá trị, gia tăng khả năng cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu.
Các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn chất lượng, do đó truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, chế biến sâu đang trở thành chìa khóa để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Theo đánh giá của Thương vụ Việt Nam tại Canada, với lợi thế về chi phí sản xuất, sở hữu hệ thống doanh nghiệp ngày càng đáp ứng tốt các tiêu chuẩn chất lượng, quy tắc xuất xứ và yêu cầu phát triển bền vững, Việt Nam được dự báo sẽ sớm vượt Đức để trở thành đối tác cung cấp hàng hóa lớn thứ 5 của Canada.
Việc điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số sản phẩm thép đang bước vào giai đoạn quyết định. Những lập luận trái chiều tại phiên tham vấn cho thấy yêu cầu bảo vệ ngành sản xuất trong nước cần được đặt trong bài toán rộng hơn, vừa bảo đảm hiệu lực của thuế chống bán phá giá, vừa duy trì hài hòa nguồn nguyên liệu và sức cạnh tranh các ngành công nghiệp hạ nguồn.
Nhận định này vừa được Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đưa ra ngày 15/7 trong báo cáo Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý II/2026. Trong đó, khẳng định sức hấp dẫn và khả năng chống chịu của Việt Nam trong bối cảnh đấu trường kinh doanh quốc tế còn nhiều chông gai.
Văn phòng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và UBND tỉnh Lào Cai khẩn trương hoàn thiện Đề án thí điểm xây dựng mô hình mới về Khu hợp tác kinh tế qua biên giới tại cửa khẩu quốc tế đường bộ Lào Cai. Đề án hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch xuất nhập khẩu qua khu vực đạt 12-15 tỷ USD vào năm 2030, đồng thời thí điểm nhiều cơ chế mới nhằm nâng cao hiệu quả thông quan và kết nối thương mại biên giới.
Không chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu bình quân 10-11%/năm trong giai đoạn 2026-2030, TP. Hồ Chí Minh còn hướng tới nâng tỷ trọng hàng công nghệ trung bình và cao lên khoảng 70%, đưa nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu.
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam - UAE mở ra dư địa hợp tác mới, tạo động lực thúc đẩy thương mại song phương phát triển bền vững. Cùng với lợi thế trung chuyển của UAE, doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu.
Xuất khẩu gia vị của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận bức tranh nhiều gam màu đan xen với sự tăng mạnh của ớt, bạch đậu khấu - nhục đậu khấu và nhóm gừng, nghệ, trong khi hoa hồi vẫn chịu sức ép từ nhu cầu suy giảm tại thị trường truyền thống.
Giá cước vận chuyển container từ châu Á đi Bắc Mỹ và châu Âu tiếp tục duy trì ở mức cao trong đầu tháng 7/2026, gây thêm áp lực chi phí đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản. Tuy nhiên, việc các hãng tàu bổ sung công suất và từng bước khôi phục hành trình qua kênh đào Suez đang mở ra kỳ vọng cước vận tải có thể hạ nhiệt trong những tháng cuối năm.
Xuất khẩu phân bón của Việt Nam tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026, phản ánh khả năng tận dụng cơ hội thị trường giữa biến động nguồn cung toàn cầu. Kết quả tích cực mở ra dư địa mở rộng thị trường xuất khẩu, song vẫn đòi hỏi doanh nghiệp cần chủ động ứng phó với rủi ro.
Mới qua 6 tháng đầu năm 2026 nhưng Việt Nam đã chi tới 115,2 tỷ USD nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, theo số liệu thống kê mới được Cục Hải quan công bố.
Tại Hội nghị đối thoại do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh khu vực 2 tổ chức ngày 10/7, nhiều doanh nghiệp cho rằng, cần sớm tháo gỡ "khoảng trống tài chính" đối với các dự án nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản và xuất khẩu đang trong giai đoạn đầu phát triển.
Các chuyên gia cung cấp nhiều phân tích, giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chủ động khai thác dòng vốn đầu tư, tận dụng xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu và mở rộng thị phần tại thị trường Hoa Kỳ.
Theo Frost & Sullivan, giải thưởng dành cho Cảng Quốc tế Long An ghi nhận quá trình đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển cảng xanh và hệ thống logistics theo định hướng hội nhập quốc tế.
Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về doanh nghiệp ưu tiên giữa các nước ASEAN được triển khai từ ngày 30/6/2026 đang mở thêm dư địa thuận lợi về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp Việt Nam. Cơ chế này không chỉ giúp hàng hóa của doanh nghiệp ưu tiên được nhận diện tại nước nhập khẩu, mà còn góp phần giảm chi phí, tăng tính dự báo và nâng năng lực tham gia chuỗi cung ứng khu vực.