🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Xuất khẩu

Xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa tăng 67,6% trong 9 tháng

Cập nhật: Báo Nông nghiệp và Môi trường
Xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa tăng 67,6% trong 9 tháng

Xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa tăng 67,6% trong 9 tháng

Trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 156,8 triệu USD, tăng 67,6% so với cùng kỳ năm 2025, mức tăng cao nhất trong các mặt hàng nông lâm thủy sản được thống kê. Trong khi đó, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản (NLTS) đạt 56,3 tỉ USD.

Trong quý III và 9 tháng năm 2026, dù tình hình thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, biến động bất thường về giá nguyên, nhiên liệu và thị trường, toàn ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.

Tốc độ tăng trưởng GDP quý III của toàn ngành ước đạt 4,1 - 4,2%; giải ngân vốn đầu tư công đạt trên 60%. Sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục có kết quả tích cực, với kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm ước đạt 56,3 tỉ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Xuất siêu đạt 16,9 tỉ USD, tăng 7,4%.

Trong bức tranh xuất khẩu chung đó, một số nhóm hàng ghi nhận mức tăng đáng chú ý.

Sữa và sản phẩm sữa tăng 67,6%

Sản phẩm chăn nuôi là một trong những nhóm hàng có mức tăng trưởng cao trong 9 tháng đầu năm 2026. Tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Đáng chú ý nhất là sữa và sản phẩm sữa với giá trị xuất khẩu đạt 156,8 triệu USD, tăng 67,6%. Đây là mức tăng cao nhất trong các mặt hàng được thống kê.

Bên cạnh đó, xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 170,9 triệu USD, tăng 15,4%.

Không chỉ sản phẩm chăn nuôi, nhiều mặt hàng khác cũng duy trì mức tăng trưởng về giá trị xuất khẩu.

Hàng rau quả đạt gần 7,35 tỉ USD trong 9 tháng, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2025. Hạt tiêu đạt 1,4 tỉ USD, tăng 10,2%; hạt điều đạt 3,85 tỉ USD, tăng 2%.

Xuất khẩu thủy sản đạt 9,17 tỉ USD, tăng 12,3%. Gỗ và sản phẩm gỗ đạt gần 13,43 tỉ USD, tăng 7,3%.

Chè đạt 167,9 triệu USD, tăng 0,4%. Trong khi đó, một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu giảm so với cùng kỳ như cà phê, cao su, gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn.

Rau quả đạt gần 7,35 tỉ USD

Trong nhóm các mặt hàng tăng trưởng, hàng rau quả tiếp tục ghi nhận mức tăng đáng chú ý cả về giá trị tuyệt đối và tốc độ tăng.

Tháng 9 năm 2026, giá trị xuất khẩu rau quả ước đạt 1,19 tỉ USD. Tính chung 9 tháng, con số này đạt gần 7,35 tỉ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam, chiếm 63% tổng giá trị xuất khẩu. Hoa Kỳ và Hàn Quốc là hai thị trường lớn tiếp theo, với thị phần lần lượt 7% và 3,8%.

So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu rau quả trong 8 tháng đầu năm 2026 sang Trung Quốc tăng 38,8%, Hoa Kỳ tăng 17,9% và Hàn Quốc tăng 9,7%.

Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Campuchia là thị trường có mức tăng mạnh nhất, với giá trị xuất khẩu rau quả tăng 2,3 lần.

Thủy sản tăng 12,3%, hồ tiêu tăng 10,2%

Thủy sản cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực. Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 9 ước đạt 1,17 tỉ USD, đưa tổng giá trị 9 tháng lên 9,17 tỉ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là ba thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt 23,7%, 15,7% và 14%.

Trong 8 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng 33,9%, Hoa Kỳ tăng 1,5% và Nhật Bản tăng 2,8% so với cùng kỳ.

Đối với hạt tiêu, khối lượng xuất khẩu 9 tháng đạt 214,4 nghìn tấn, tăng 15%, trong khi giá trị đạt 1,4 tỉ USD, tăng 10,2%.

Hoa Kỳ, Đức và Thái Lan là ba thị trường tiêu thụ hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam. Trong 8 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 19,2%, Thái Lan tăng 52,8%, trong khi Đức giảm 17%.

Một số mặt hàng giảm giá trị xuất khẩu

Không phải tất cả các nhóm hàng đều duy trì tăng trưởng. Cà phê là một ví dụ.

9 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn cà phê, tăng 15,4% về khối lượng. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu chỉ đạt 6,54 tỉ USD, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân đạt 4.537,3 USD/tấn, giảm 19,7%.

Tương tự, xuất khẩu cao su đạt 1,1 triệu tấn, trị giá 2,18 tỉ USD, giảm 16,2% về khối lượng và giảm 4,4% về giá trị. Giá cao su xuất khẩu bình quân tăng 14,1%.

Gạo cũng giảm cả về khối lượng và giá trị. 9 tháng, xuất khẩu gạo đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỉ USD, giảm lần lượt 6,1% và 10,9% so với cùng kỳ. Giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 484,8 USD/tấn, giảm 5,1%.

Sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 2,4 triệu tấn, trị giá 905,7 triệu USD, giảm 22,7% về khối lượng và 4,5% về giá trị. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân tăng 23,5%.

Xuất khẩu NLTS đạt 56,3 tỉ USD

Tính chung 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu NLTS đạt 56,3 tỉ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Kết quả này đi cùng mức xuất siêu 16,9 tỉ USD, tăng 7,4%.

Theo khu vực thị trường, châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS chính của Việt Nam, chiếm 49,4% thị phần. Châu Mỹ và châu Âu lần lượt chiếm 22,2% và 13,5%.

Xét theo từng thị trường, Trung Quốc chiếm 24,4% thị phần, Hoa Kỳ 19,8% và Nhật Bản 7,4%, là ba thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS chính lớn nhất của Việt Nam.

Trong 9 tháng, giá trị xuất khẩu NLTS chính sang Trung Quốc tăng 18,9%, Hoa Kỳ tăng 1,2% và Nhật Bản tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước.

Những kết quả trên được ghi nhận trong bối cảnh toàn ngành tiếp tục triển khai các nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và ứng phó với El Nino, biến đổi khí hậu.

Để hoàn thành các chỉ tiêu năm 2026, toàn ngành được yêu cầu tiếp tục rà soát kết quả thực hiện kế hoạch, xử lý dứt điểm các nhiệm vụ còn tồn đọng, phấn đấu hoàn thành và vượt 100% các chỉ tiêu được giao.

Mục tiêu được đặt ra trong những tháng cuối năm là tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành đạt 4%, kim ngạch xuất khẩu NLTS đạt từ 74 tỉ USD trở lên và giải ngân đầu tư công đạt 100%.