🌾 Tính tiền bán lúa sau khi trừ ẩm và tạp chất
Thương lái trừ ẩm, trừ tạp chất thì còn lại bao nhiêu? Quy khối lượng lúa tươi về khối lượng chuẩn và tính ra số tiền thực nhận.
Số liệu lúc cân
Ba bước thương lái tính tiền
Bước 1 — quy ẩm. Lúa vừa cắt chứa nhiều nước, không thể tính tiền như lúa đã khô. Bên mua quy khối lượng về một mức ẩm chuẩn, thường là 14%. Đây là phần trừ lớn nhất và cũng là phần hợp lý, vì nước không phải là lúa.
Bước 2 — trừ tạp chất. Rơm rạ, hạt lép, đất cát lẫn trong lô lúa bị trừ theo tỷ lệ, thường 1–3%. Mức trừ áp trên khối lượng đã quy ẩm.
Bước 3 — nhân giá. Khối lượng còn lại nhân với giá đã thoả thuận là số tiền thực nhận. Chia ngược số tiền đó cho khối lượng lúa tươi ban đầu sẽ ra giá mỗi kilogam lúa tươi — con số dùng để so giữa các thương lái.
Hỏi rõ bốn điều trước khi cân
- • Quy ẩm về bao nhiêu phần trăm, đo bằng máy nào, có đo trước mặt không.
- • Trừ tạp chất bao nhiêu phần trăm và căn cứ vào đâu.
- • Giá báo là giá theo lúa tươi hay theo khối lượng đã quy chuẩn.
- • Chi phí cắt, chở, bốc xếp bên nào chịu.
Xem giá lúa gạo hôm nay để biết mặt bằng trước khi thương lượng.
Câu hỏi thường gặp
Quy lúa tươi về ẩm 14% tính thế nào?
Lấy khối lượng lúa tươi nhân với (100 trừ ẩm đo được), rồi chia cho (100 trừ 14). Ví dụ 5.000kg lúa ẩm 22% quy về ẩm 14% còn khoảng 4.535kg. Phần chênh gần 465kg chính là lượng nước dư trong hạt, không phải bên mua trừ tuỳ tiện.
Vì sao mỗi thương lái quy ẩm chuẩn một khác?
Mức quy chuẩn phổ biến là 14%, nhưng có nơi quy về 15,5% hoặc áp bảng trừ riêng theo từng khoảng ẩm. Chênh lệch một hai điểm phần trăm ẩm trên vài tấn lúa là con số tiền không nhỏ, nên cần hỏi rõ mức quy chuẩn trước khi đồng ý cân.
Làm sao so được giá giữa người báo giá lúa tươi và người báo giá lúa khô?
Quy tất cả về giá mỗi kilogam lúa tươi thực nhận: lấy tổng tiền chia cho khối lượng lúa tươi cân được. Đây là con số duy nhất so sánh trực tiếp được, vì nó đã gộp cả mức trừ ẩm và trừ tạp chất của từng bên.
Tạp chất thường bị trừ bao nhiêu phần trăm?
Tuỳ độ sạch của lô lúa và cách thu hoạch, phổ biến trong khoảng 1–3%. Lúa cắt máy gặp mưa, lẫn nhiều rơm rạ, hạt lép thì mức trừ cao hơn. Nếu thấy mức trừ vượt xa thực tế, có thể yêu cầu sàng thử một mẫu để đối chiếu.