Công nghệ nâng giá trị nông sản Lạng Sơn

Công nghệ đang đi sâu vào chuỗi giá trị nông sản Lạng Sơn, từ sản xuất, bảo quản đến quản lý nguồn gốc và kết nối thị trường.
Kéo dài giá trị từ một mùa hồng
Hồng vành khuyên là sản phẩm đặc trưng của Lạng Sơn nhưng thời gian bảo quản quả tươi không dài, sức ép tiêu thụ thường dồn vào chính vụ. Với HTX Nông sản Toàn Thương, bài toán đặt ra là làm thế nào để kéo dài thời gian sử dụng và nâng giá trị quả hồng sau thu hoạch.
Bà Vương Thị Thương, Giám đốc HTX Nông sản Toàn Thương cho biết, HTX đã đầu tư máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nhà kính, khu treo hồng và các điều kiện phục vụ sơ chế, chế biến từ khá sớm. Từ quả hồng tươi, HTX phát triển sản phẩm hồng treo gió, qua đó kéo dài thời gian bảo quản và chủ động hơn trong tiêu thụ.
Từ năm 2023, HTX tiếp tục phối hợp thực hiện đề tài về bảo quản sau thu hoạch. Thông qua sự kết nối của ngành khoa học và công nghệ với đơn vị nghiên cứu chuyên ngành, HTX tham gia nghiên cứu, khảo sát thực tế, thử nghiệm các giải pháp kỹ thuật và công nghệ bảo quản đối với hồng vành khuyên.
Theo bà Thương, quá trình thử nghiệm đã cho kết quả tốt, bổ sung giải pháp bảo quản cho sản phẩm hồng treo gió. Cùng với hệ thống nhà xưởng, thiết bị đã đầu tư, việc ứng dụng kỹ thuật vào sơ chế, chế biến và bảo quản giúp HTX từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất.
Hiện mỗi vụ, HTX sản xuất khoảng 10-15 tấn hồng treo gió thành phẩm, giá bán từ 380.000-400.000 đồng/kg. Hoạt động sản xuất tạo việc làm cho khoảng 10 lao động địa phương, với thu nhập từ 8-12 triệu đồng/người/tháng.
Dự án hồng treo gió và hồng sấy dẻo của bà Thương từng giành giải nhất Cuộc thi Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Lạng Sơn năm 2022.
Từ quả hồng vốn chịu sức ép tiêu thụ trong thời gian ngắn, chế biến và ứng dụng công nghệ bảo quản đã giúp HTX tạo thêm sản phẩm có giá trị, kéo dài thời gian tiêu thụ. Câu chuyện này cũng cho thấy dư địa ứng dụng công nghệ còn khá lớn đối với những nông sản mang tính mùa vụ của Lạng Sơn.
Công nghệ phải đi cùng cả chuỗi
Không chỉ ở khâu chế biến, công nghệ đang được đưa vào nhiều mắt xích của quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản Lạng Sơn.
Ông Hoàng Văn Chiều, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lạng Sơn cho biết, các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, sản phẩm OCOP của tỉnh đã có chuyển biến về chất lượng, thương hiệu và thị trường. Khoa học, công nghệ và công nghệ số cần tiếp tục ứng dụng trong sản xuất, quản lý, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
Theo ông Chiều, chuyển đổi số trong nông nghiệp không đơn thuần là đưa thiết bị hay một nền tảng công nghệ vào sử dụng mà gắn với thay đổi phương thức quản lý, tổ chức sản xuất và kết nối thị trường. Mỗi HTX, doanh nghiệp có nguồn lực, điều kiện khác nhau nên giải pháp được lựa chọn phải phù hợp với nhu cầu thực tế.
Ông Trần Hữu Giang, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lạng Sơn cho biết, chuyển đổi số trong nông nghiệp thời gian qua đã có nhiều chuyển biến. Công nghệ được ứng dụng trong sản xuất, bảo quản, truy xuất nguồn gốc; các nền tảng số, sàn thương mại điện tử và hình thức livestream cũng được sử dụng để quảng bá, tiêu thụ nông sản.
Những ứng dụng này được cụ thể hóa tại hội thảo về chuyển đổi số trong sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cuối tháng 8 vừa qua. Các giải pháp về quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng, xây dựng thương hiệu, IoT, GIS, VR360 và livestream bán hàng được giới thiệu đến các cơ sở sản xuất.
Lạng Sơn cũng đang triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản theo hướng kết nối, chia sẻ dữ liệu hiện có, thực hiện “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”. Dữ liệu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, sản xuất, chăn nuôi, thủy sản, doanh nghiệp, HTX và sản phẩm được rà soát, chuẩn hóa; ưu tiên sản phẩm chủ lực, OCOP, sản phẩm xuất khẩu và các chuỗi sản xuất quan trọng.
Như vậy, công nghệ không chỉ xuất hiện ở khâu cuối để quảng bá hay bán sản phẩm. Khi dữ liệu được hình thành ngay từ vùng sản xuất, cơ sở có thêm công cụ quản lý chất lượng, nguồn gốc và tổ chức sản xuất sát hơn với yêu cầu của thị trường.
Đi sâu vào giống, bảo quản và chế biến
Lạng Sơn đang tiếp tục đưa công nghệ sâu hơn vào chính quá trình tạo ra và nâng giá trị sản phẩm.
Theo Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh xác định ứng dụng các công nghệ sinh học tiên tiến trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi; phát triển chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, công nghệ bảo quản và xử lý môi trường.
Ở khâu sau thu hoạch, các giải pháp công nghệ hướng tới kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm, sơ chế, bảo quản và chế biến. Đây là những khâu ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian lưu thông, khả năng tiêu thụ và giá trị sản phẩm.
Kế hoạch triển khai Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược trên địa bàn tỉnh cũng xác định ứng dụng công nghệ sinh học, nano cùng các giải pháp sấy, bảo quản, chế biến sâu đối với na, hồi, quế, thạch đen, macca và dược liệu.
Mỗi loại nông sản đặt ra một bài toán khác nhau. Với hồng là kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị sau thu hoạch; tại các vùng sản xuất hàng hóa là quản lý vùng trồng, chất lượng và truy xuất nguồn gốc; còn na, hồi, quế, thạch đen, macca hay dược liệu vẫn còn nhiều dư địa ở khâu bảo quản, chế biến sâu.
Khi công nghệ đi sâu vào từng khâu của chuỗi sản xuất, nông sản có thêm điều kiện kéo dài thời gian bảo quản, nâng mức độ chế biến và quản lý rõ hơn về nguồn gốc. Đây cũng là cơ sở để sản phẩm địa phương mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và nâng cao giá trị.