🌾 Cập nhật giá cà phê và nông sản mới nhất mỗi ngày
Nông sản

Đề xuất tiếp cận mới cho Đề án 1 triệu ha

Cập nhật: nongnghiepmoitruong.vn
Đề xuất tiếp cận mới cho Đề án 1 triệu ha

Gắn hỗ trợ với kết quả, chủ động xây dựng vùng sản xuất và bảo đảm lợi ích nông dân là những hướng tiếp cận mới cho Đề án 1 triệu ha lúa.

Những con số tích cực từ Đề án 1 triệu ha

Tại Hội nghị Ngày Lương thực thế giới năm 2026, diễn ra ở TP.HCM ngày 15/10/2026, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đến tháng 8/2026, ở ĐBSCL và Tây Ninh, đã có hơn 420.800 ha lúa áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình bền vững, với trên 175 nghìn hộ đăng ký tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL (Đề án 1 triệu ha).

Sản xuất lúa theo quy trình bền vững đã giúp giảm vật tư đầu vào nhưng vẫn tăng năng suất và lợi nhuận: giảm 30-50% lượng giống gieo sạ, giảm 20-30% phân bón hóa học, giảm 2-3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật/vụ, giảm 20-40% lượng nước tưới; tăng 5-12% năng suất và tăng lợi nhuận 1,5-9,3 triệu đồng/ha/vụ. Đặc biệt, việc giảm phát thải đã bắt đầu được đo đạc ở các mô hình.

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đã tạo ra những chuyển biến cốt lõi trong sản xuất lúa như hình thành vùng nguyên liệu tập trung, mở rộng liên kết hợp tác xã - doanh nghiệp, áp dụng kỹ thuật giảm đầu vào, giảm phát thải và bước đầu gắn sản xuất với thị trường cao cấp.

Việc tham gia Đề án 1 triệu ha cũng đã tạo ra những sự đổi thay lớn tại các doanh nghiệp. Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, cũng nhờ Đề án 1 triệu ha mà Bình Điền đã thay đổi cách tiếp cận trong sản xuất kinh doanh của công ty. Đó là kết nối và xây dựng hệ sinh thái các doanh nghiệp từ cày xới, băm rơm, sạ cụm, cung cấp giống, vật tư đầu vào, đo phát thải, số hoá, thu mua và hệ thống khuyến nông.

Ông Tâm chia sẻ: "Thực tế các chương trình hợp tác của chúng tôi tại các mô hình trình diễn của Đề án vừa qua đều đem lại hiệu quả cao về kinh tế và giảm phát thải rõ rệt".

Chủ động xây dựng vùng nguyên liệu

Dù đã đạt được những kết quả tích cực, Đề án 1 triệu ha lúa vẫn cần có những cách tiếp cận mới. Theo Nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Bùi Bá Bổng, quá trình thực hiện Đề án cần chủ động xây dựng vùng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, không chờ đến khi có doanh nghiệp liên kết bao tiêu mới triển khai.

Theo cách tiếp cận này, việc hoàn thiện hệ thống thủy nông, hỗ trợ cơ giới hóa và tự động hóa cần được ưu tiên để nông dân áp dụng quy trình đồng bộ, giảm chi phí (từ 30% trở lên), đồng thời tính tới khả năng nâng giá bán lúa chất lượng cao, phát thải thấp thông qua liên kết doanh nghiệp.

Ông Bùi Bá Bổng cho rằng, đây là vấn đề có ý nghĩa thực tế. Khi nông dân chủ động được nguồn nước tưới, áp dụng kỹ thuật phù hợp và giảm đầu vào, lợi ích của chuyển đổi có thể hình thành ngay trong quá trình sản xuất. Việc liên kết tiêu thụ tiếp tục được mở rộng trên nền tảng vùng nguyên liệu có chất lượng và khả năng cung ứng ổn định.

Cũng theo ông, khi quy mô sản xuất của Đề án đạt 1 triệu ha rồi tiến tới 1,5 triệu ha, không nhất thiết toàn bộ diện tích lúa trong Đề án đều phải có hợp đồng bao tiêu. Trước mắt là khoảng 500.000 ha có hợp đồng bao tiêu, với khoảng 10 doanh nghiệp tham gia, mỗi doanh nghiệp liên kết 50.000 ha. Đây là đề xuất về cách tổ chức triển khai, gợi mở việc phát triển vùng sản xuất song song với mở rộng năng lực thu mua của doanh nghiệp.

Tạo động lực bằng kết quả và thị trường

Kinh nghiệm của Dự án Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại khu vực ĐBSCL (TRVC) cho thấy một hướng huy động doanh nghiệp thông qua cơ chế giải thưởng gắn với kết quả.

Theo TS Trần Thu Hà, Giám đốc Dự án TRVC, dự án tiếp cận chuỗi giá trị với sự dẫn dắt của khu vực tư nhân, thúc đẩy canh tác theo hợp đồng dựa trên cơ chế thị trường. Doanh nghiệp tham gia tổ chức liên kết, triển khai các yêu cầu kỹ thuật và khai nhập dữ liệu trên hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định phát thải (MRV).

Đến cuối vụ thứ 3, diện tích lũy kế qua các mùa vụ của dự án TRVC đạt hơn 84.400 ha, lượng giảm phát thải được báo cáo đạt gần 321.000 tấn CO₂ tương đương. Mức tăng lợi nhuận của hộ sản xuất nhỏ là hơn 56%.

Đáng chú ý, những chuyển đổi trong sản xuất lúa đã được gắn kết với thương hiệu và thị trường. Cụ thể, đến nay, hơn 123.100 tấn gạo của các doanh nghiệp tham gia TRVC đã được cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh - Phát thải thấp”. Trong đó, gần 53.900 tấn đã được xuất khẩu.

Những kinh nghiệm này gợi mở cách thiết kế hỗ trợ để doanh nghiệp có động lực đầu tư vào vùng nguyên liệu, dữ liệu và chất lượng. Kết quả giảm phát thải cần đi cùng khả năng bán sản phẩm, tiếp cận tài chính và duy trì hợp đồng với nông dân.

Từ thực tiễn tham gia Đề án 1 triệu ha của Công ty CP Phân bón Bình Điền, ông Phan Văn Tâm đề nghị hình thành cơ chế hợp tác công tư để kiểm chứng các giải pháp trên cùng hệ thống tiêu chí. Mỗi mô hình cần làm rõ chi phí thay đổi thế nào, lợi nhuận nông dân ra sao, chất lượng lúa có đáp ứng yêu cầu và mức giảm phát thải có được xác nhận hay không.

Ông Tâm kiến nghị cần hỗ trợ chi phí chuyển đổi ban đầu cho hợp tác xã và nông dân. Bởi lợi ích từ giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả và liên kết tiêu thụ cần được xác lập trước khi kỳ vọng vào nguồn thu tín chỉ carbon.

Đồng thời, cần đưa theo dõi sức khỏe đất và quản lý dinh dưỡng theo vùng vào triển khai Đề án 1 triệu ha. Cần có mạng lưới điểm theo dõi đại diện, phân tích đất đầu kỳ và định kỳ qua các vụ, từ đó điều chỉnh khuyến cáo cho từng vùng sản xuất. Ông Tâm nhấn mạnh "Nông dân, kể cả người thuê đất, cần được thấy lợi ích kinh tế của việc chăm sóc đất ngay trong quá trình canh tác".

Để người trực tiếp làm ruộng có tiếng nói

Bên cạnh kỹ thuật và thị trường, năng lực làm chủ của cộng đồng, sự tham gia của phụ nữ, thanh niên... cũng là những yếu tố quan trọng cần được thúc đẩy trong Đề án 1 triệu ha.

Giảm giống, giảm phân bón, hay từ bỏ thói quen đốt rơm rạ trên đồng đều gắn với quyết định hằng ngày của nông hộ. Trong khi đó, tưới ngập khô xen kẽ và bố trí lịch thời vụ cần sự phối hợp trên cả cánh đồng. Vì vậy, năng lực tổ chức hành động tập thể của hợp tác xã và cộng đồng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì quy trình.

Từ kinh nghiệm của Dự án GoRice, Oxfam đề xuất bổ sung các chỉ số theo giới, dân tộc và độ tuổi vào hệ thống theo dõi, đánh giá; xác định cụ thể người được tập huấn thay vì chỉ thống kê số hộ. Tập huấn cần đến đúng người trực tiếp sản xuất, bố trí thời gian và địa điểm phù hợp, khuyến khích cả vợ và chồng tham gia.

Với thanh niên, hướng tiếp cận được đề xuất là hình thành các tổ dịch vụ số và kỹ thuật gắn với hợp tác xã. Người trẻ có thể tham gia quản lý nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, hỗ trợ MRV, vận hành máy móc hoặc cung ứng dịch vụ thu gom, xử lý rơm. Qua đó, thanh niên có thêm cơ hội tham gia chuỗi giá trị ngay cả khi chưa có đất sản xuất.

Oxfam cũng kiến nghị xây dựng hợp đồng mẫu dài hạn, chia sẻ rủi ro và nâng cao năng lực đàm phán cho hợp tác xã. Cơ chế chia sẻ giá thưởng, chi trả giảm phát thải cần minh bạch tới người sản xuất.

Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook

Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.

Theo dõi fanpage