‘Đói’ nguyên liệu, doanh nghiệp thủy sản gặp khó vì giấy SC

Dù đối tác EU đặt hàng với khối lượng lớn, nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản tại TP.HCM vẫn đứng trước nguy cơ vỡ hợp đồng do thiếu nguyên liệu có giấy SC.
Đơn hàng dồi dào, nguyên liệu hợp lệ lại thiếu
Tại TP.HCM, một nghịch lý đang xảy ra khi đơn hàng từ thị trường Liên minh châu Âu (EU) khá dồi dào, nhưng doanh nghiệp lại khó thu mua đủ nguyên liệu có hồ sơ pháp lý đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Điểm nghẽn nằm ở thủ tục cấp Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác (SC). Đây là hồ sơ quan trọng để doanh nghiệp chứng minh nguồn nguyên liệu khai thác đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc, phục vụ xuất khẩu vào những thị trường kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Theo Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư TP.HCM, khó khăn trong quá trình cấp SC hiện tập trung ở nhiều khâu, từ phân loại chủng loại hải sản, ghi chép nhật ký khai thác, hoạt động trung chuyển qua tàu dịch vụ hậu cần đến việc đối chiếu dữ liệu giám sát hành trình (VMS).
“Với doanh nghiệp, khi hồ sơ chứng minh nguồn gốc chưa đầy đủ, những nguyên liệu dù được khai thác trong nước vẫn có thể gặp khó khi đưa vào chuỗi xuất khẩu. Điều này làm tăng nguy cơ chậm giao hàng, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện hợp đồng”, ông Nguyễn Hữu Thi, Phó Chi cục trưởng trao đổi.
Khi nguyên liệu khai thác trong nước khó hoàn thiện hồ sơ để đi vào chuỗi xuất khẩu chính ngạch, đầu ra của sản phẩm bị thu hẹp, qua đó có thể tác động đến giá thu mua và sinh kế của ngư dân.
Theo bà Phạm Thị Na, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, một trong những khó khăn hiện nay là việc ghi nhận và đối chiếu dữ liệu chưa đồng bộ.
“Ngư dân vẫn quen sử dụng tên gọi thông thường của các loài hải sản, trong khi hồ sơ xác nhận nguồn gốc lại yêu cầu thông tin cụ thể theo danh pháp khoa học. Chẳng hạn, nhóm cá đổng (xô) có thể gồm nhiều loài khác nhau. Khi nhật ký được ghi bằng tay, việc xác định chính xác từng loài rất khó, chỉ cần sai lệch thông tin cũng có thể khiến hồ sơ phải bổ sung, điều chỉnh”, bà Na cho biết.
Đối với tàu khai thác vùng khơi, chuyến biển thường kéo dài nhiều ngày. Hải sản có thể được đưa vào bờ thông qua tàu dịch vụ hậu cần. Do đó, khi thuyền trưởng không có mặt tại cảng cá khi sản phẩm được bốc dỡ hoặc nhật ký khai thác, hồ sơ liên quan chưa được cung cấp kịp thời, cơ quan quản lý có thể gặp khó khăn trong việc kiểm tra, xác nhận sản lượng, chủng loại và nguồn gốc nguyên liệu.
Điều này cho thấy điểm nghẽn không chỉ nằm ở bản thân tờ giấy SC mà còn nằm ở khả năng kết nối thông tin giữa các chủ thể trong chuỗi khai thác.
“Nhật ký khai thác ghi tay hiện vẫn phát sinh nhiều sai sót về tọa độ, thời gian, tên loài, sản lượng, chữ viết và các thông tin liên quan. Điều kiện khai thác trên biển, thời tiết và sự không đồng bộ của thiết bị cũng có thể dẫn đến sai lệch thông tin”, ông Thi cho biết.
Hiện, tàu cá sử dụng thiết bị VMS của nhiều nhà cung cấp khác nhau và dữ liệu giữa các hệ thống chưa được kết nối, đồng bộ đầy đủ. Nếu chỉ yêu cầu doanh nghiệp, ngư dân hoàn thiện thêm giấy tờ mà dữ liệu nền phía sau chưa được kết nối thì việc xác nhận nguồn gốc vẫn có thể mất nhiều thời gian.
Một trường hợp khác được lưu ý là nguyên liệu ruốc khai thác gần bờ. Ruốc chủ yếu được khai thác bằng tàu có chiều dài dưới 15 m. Trong trường hợp không có dữ liệu trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử thủy sản Việt Nam (eCDT), doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi hoàn thiện hồ sơ xác nhận nguyên liệu khai thác phục vụ xuất khẩu vào thị trường EU.
Đối với các phương tiện khai thác gần bờ, đặc điểm hoạt động và phương thức quản lý khác với nhóm tàu khai thác xa bờ. Vì vậy, việc xây dựng cơ chế xác nhận và truy xuất cũng cần tính đến đặc thù này, thay vì áp dụng một cách máy móc cùng một phương thức quản lý.
TP.HCM đang tổng hợp vướng mắc về nguyên liệu ruốc và thủy sản khai thác gần bờ để kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn, hoàn thiện cơ chế quản lý, truy xuất, vừa kiểm soát nguồn gốc vừa tạo thuận lợi cho xuất khẩu.
Chuyển đổi số để khơi thông nguồn nguyên liệu
Mới đây, Công an TP.HCM đã có văn bản tham mưu, kiến nghị UBND TP.HCM chỉ đạo các sở, ngành liên quan nghiên cứu giải pháp tháo gỡ khó khăn trong xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.
Theo Đại tá Bùi Thanh Trực, Phó Giám đốc Công an TP.HCM, thành phố cần đẩy mạnh thí điểm phần mềm truy xuất nguồn gốc điện tử eCDT. Việc ứng dụng phần mềm cần được triển khai đồng bộ tại các cảng cá, từ khâu bốc dỡ, tiếp nhận, sang mạn đến đối chiếu sản lượng và xác nhận nguồn gốc.
Trước mắt, cần thí điểm tại một số cảng cá, nhóm tàu và doanh nghiệp có nhu cầu, trên cơ sở các giải pháp, phần mềm và thiết bị đã được cơ quan có thẩm quyền thông báo đủ điều kiện tích hợp với hệ thống dùng chung. Dữ liệu phải có khả năng kết nối từ tàu cá đến cảng cá, từ hoạt động khai thác, trung chuyển đến doanh nghiệp chế biến.
Đối với hoạt động trung chuyển qua tàu dịch vụ hậu cần, cần nghiên cứu một quy trình kiểm tra, đối chiếu riêng, trong đó làm rõ phương thức xác nhận sản lượng, chủng loài, thời gian, vị trí trung chuyển và đối chiếu dữ liệu VMS.
Thời gian qua, TP.HCM đang đẩy mạnh số hóa nhật ký khai thác thủy sản và nhật ký thu mua, chuyển tải thủy sản điện tử, từng bước thay thế phương thức ghi chép thủ công. Thông tin về chuyến biển, hoạt động khai thác, sản lượng và các dữ liệu liên quan được đưa lên môi trường số, tạo cơ sở để cơ quan quản lý và doanh nghiệp kiểm tra, đối chiếu thuận lợi hơn.
Khi dữ liệu chuyến biển được ghi nhận và lưu trữ trên hệ thống, quá trình kiểm tra nguồn gốc có thể dựa nhiều hơn vào dữ liệu thực tế thay vì phụ thuộc vào giấy tờ thủ công. Đây cũng là hướng đi phù hợp với các khuyến nghị của Thanh tra EC về tăng cường tính minh bạch, khả năng kiểm soát và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác.
TP.HCM cũng đang hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân bằng nhiều cơ chế, chính sách. Mới đây, HĐND TP.HCM đã thông qua Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ lắp đặt, thay thế thiết bị giám sát hành trình tàu cá, duy trì kết nối hệ thống thiết bị giám sát hành trình tàu cá và hỗ trợ cước phí dịch vụ nhật ký điện tử cho tàu cá trên địa bàn thành phố.
Chính sách này có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm một phần chi phí cho chủ tàu, đồng thời tạo điều kiện để duy trì liên tục các thiết bị và dịch vụ phục vụ quản lý, giám sát hoạt động khai thác. Nếu thiết bị VMS và nhật ký điện tử được duy trì ổn định, dữ liệu từ chuyến biển sẽ có điều kiện được hình thành đầy đủ hơn.
Nhờ đó, trường hợp người ghi nhật ký vẫn nhập sai tên loài, tọa độ, sản lượng hoặc thời gian thì dữ liệu điện tử cũng không thể trở thành căn cứ đáng tin cậy để xác nhận nguồn gốc. Ngược lại, khi nhật ký điện tử, VMS và hệ thống truy xuất được vận hành đồng bộ, dữ liệu có thể trở thành công cụ giúp giảm thủ tục thay vì tạo thêm thủ tục cho ngư dân và doanh nghiệp.
Trong bối cảnh thị trường quốc tế ngày càng siết yêu cầu truy xuất nguồn gốc, tháo gỡ điểm nghẽn SC không chỉ là cải tiến thủ tục mà còn là xây dựng hệ thống dữ liệu tin cậy, kết nối nhật ký điện tử, VMS, eCDT, cảng cá và doanh nghiệp.
Nếu được triển khai đồng bộ, chuyển đổi số và chính sách hỗ trợ thiết bị, chi phí dịch vụ sẽ giúp biến dữ liệu từ yêu cầu thủ tục thành công cụ quản lý, nâng cao minh bạch chuỗi cung ứng và hỗ trợ doanh nghiệp duy trì thị trường xuất khẩu.