[eMagazine] Nông sản miền núi tìm đường chinh phục những thị trường lớn - Tạp chí Doanh nghiệp & Kinh tế xanh
![[eMagazine] Nông sản miền núi tìm đường chinh phục những thị trường lớn - Tạp chí Doanh nghiệp & Kinh tế xanh](https://doanhnghiepkinhtexanh.vn/uploads/blog/tranthihuyen/2026/10/20/longform-1-1792493189.png)
[eMagazine] Nông sản miền núi tìm đường chinh phục những thị trường lớn
Tại bản Pu Lau, xã biên giới Mường Nhà, tỉnh Điện Biên, cây dứa từng được người dân đưa vào canh tác từ những thử nghiệm ban đầu. Nhận thấy giống cây này phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, mang lại hiệu quả kinh tế tốt hơn một số loại cây trồng trước đó, các hộ dân dần mở rộng diện tích. Chính quyền địa phương sau đó tham gia định hướng sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật và từng bước quy hoạch vùng trồng.
Đến nay, Pu Lau có hơn 110 hộ trồng dứa trên diện tích khoảng 200 ha, lớn nhất xã Mường Nhà. Những hộ canh tác quy mô nhỏ có thể thu về vài chục triệu đồng mỗi năm, trong khi các hộ sở hữu diện tích lớn đạt mức thu nhập khoảng 100 triệu đồng/năm.
Ông Đặng Văn Tuấn, Chủ tịch UBND xã Mường Nhà, cho biết: "Xã đã tập trung tuyên truyền, vận động để người dân thay đổi tư duy về sản xuất. Đồng thời, chính quyền địa phương chủ động phối hợp với các sở, ngành và đơn vị liên quan hướng dẫn kỹ thuật, giúp người dân tiếp cận chính sách, nguồn vốn của Nhà nước".
Dù vậy, mở rộng sản xuất mới chỉ là bước khởi đầu. Khi diện tích và sản lượng tăng lên, đầu ra phải được tính toán tương ứng để tránh tình trạng được mùa nhưng khó tiêu thụ. Đây cũng là thách thức chung đối với nhiều nông sản vùng cao, nơi lợi thế về sản vật chưa phải lúc nào cũng chuyển hóa thành giá trị thương mại ổn định.
Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Điện Biên, việc xây dựng các mối liên kết chặt chẽ giữa vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến và đơn vị bao tiêu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm đầu ra cho nông sản.
Thực tế cho thấy, Việt Nam có nền nông nghiệp đa dạng với 7 nhóm sản phẩm nông sản, thực phẩm chủ lực gồm cà phê, cao su, gạo, rau quả, điều, tôm và sản phẩm gỗ. Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Việt Nam tự chủ hoàn toàn và đứng thứ hai thế giới về mức độ tự chủ ở 6/7 nhóm sản phẩm này. Nguồn lực đó, kết hợp với đặc trưng thổ nhưỡng, khí hậu và văn hóa từng địa phương, tạo nền tảng để phát triển các mặt hàng đặc sản tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Tuy nhiên, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nhận định nhiều doanh nghiệp đã có sản phẩm nhưng chưa đủ năng lực để mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế. Sự khác biệt về giống cây trồng, điều kiện tự nhiên, phương thức canh tác và giá trị văn hóa chỉ có thể trở thành lợi thế cạnh tranh khi đi cùng chất lượng ổn định, quy trình sản xuất chuẩn hóa và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Những hạn chế này càng rõ nét ở các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hợp tác xã. Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cùng nhiều tổ chức quốc tế, nhóm chủ thể này của Việt Nam vẫn chưa tạo được dấu ấn tương xứng khi tham gia thị trường quốc tế.
Bà Nguyễn Thị Bích Thu, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh Gia Lai (Sở Công Thương tỉnh Gia Lai), chỉ ra rằng sản xuất phân tán khiến nhiều vùng nguyên liệu cà phê, hồ tiêu, mắc ca, hạt điều và thảo dược chưa đủ khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn. Trong khi đó, hạn chế về công nghệ chế biến khiến sản phẩm khó đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật khắt khe tại châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Chi phí logistics, bao bì và mẫu mã cũng là những rào cản đáng kể. Một số doanh nghiệp vẫn sử dụng bao bì cũ, dán đè nhãn mới để tiết kiệm chi phí, khiến sản phẩm có thể bị hệ thống phân phối lớn hoặc đối tác xuất khẩu từ chối. Ông Tiến đồng thời nhấn mạnh những khó khăn về kiểm định, cấp phép, quy chuẩn bao bì và yêu cầu nghiêm ngặt trong sản xuất, chế biến. Ngay cả thị trường Trung Quốc cũng tăng cường quản lý thông qua hệ thống mã số vùng trồng, cơ sở chế biến, đóng gói và kho bãi. Đáp ứng đầy đủ các điều kiện này đòi hỏi nguồn lực tài chính và năng lực quản trị vượt quá khả năng của nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ vùng cao.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, yêu cầu đặt ra không chỉ là nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn phải tổ chức lại phương thức hỗ trợ theo hướng gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ. Theo ông Tô Hoài Nam, chính sách phát triển đặc sản vùng cao cần chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang tiếp cận toàn bộ chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp đầu chuỗi giữ vai trò quan trọng.
Với tiềm lực về vốn, công nghệ và thị trường, các doanh nghiệp này có thể hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đầu tư chế biến và tổ chức bao tiêu sản phẩm. Đồng thời, đội ngũ phát triển thị trường và bán hàng cần được phát huy vai trò trong việc cung cấp thông tin về thị hiếu, tiêu chuẩn và xu hướng tiêu dùng quốc tế. Đây là cơ sở để cơ quan quản lý, hiệp hội và người sản xuất phối hợp xây dựng quy trình phù hợp ngay từ đầu, giảm chi phí điều chỉnh khi đưa hàng hóa ra thị trường.
Ở cấp địa phương, Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh Gia Lai đã đề xuất tổ chức các không gian trải nghiệm, giới thiệu cà phê đặc sản. Thông qua những hoạt động này, người trồng cà phê và đồng bào dân tộc thiểu số được chuyên gia hướng dẫn từ kỹ thuật canh tác, chăm sóc đến chế biến, rang xay và đánh giá hương vị. Cách làm góp phần nâng cao kỹ năng sản xuất, đồng thời giúp người dân nhận diện rõ hơn giá trị của sản phẩm khi đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao.
Cùng với việc củng cố chuỗi cung ứng, lựa chọn đúng thị trường tiêu thụ là yếu tố quyết định hiệu quả thương mại. Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, nông sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có thể tiếp cận nhiều không gian thị trường khác nhau, từ hệ thống phân phối hiện đại tại đô thị, thương mại điện tử, mạng xã hội đến các điểm du lịch, khách sạn, nhà hàng, sân bay, ga tàu và trung tâm văn hóa.
Bên cạnh đó, nhóm sản phẩm quà tặng, hàng hóa phục vụ chăm sóc sức khỏe, tiêu dùng xanh và tiêu dùng có trách nhiệm cũng mở ra cơ hội cho những đặc sản gắn với sinh kế cộng đồng, môi trường và bản sắc địa phương. Tại các khu vực miền núi, biên giới, việc phát triển thị trường còn cần đi theo hướng hai chiều, vừa đưa đặc sản địa phương đến người tiêu dùng ở các khu vực khác, vừa bảo đảm cung ứng hàng Việt chất lượng với mức giá phù hợp cho người dân sở tại.
Ông Tuấn khuyến nghị: "Không phải sản phẩm nào cũng cần bán vào các hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại và siêu thị. Không phải sản phẩm nào cũng phù hợp với bán đại trà. Điều quan trọng là đúng phân khúc, đúng quy mô và đúng câu chuyện".
Trong khi đó, thương mại điện tử xuyên biên giới và truyền thông số đang tạo thêm cơ hội để các sản phẩm vùng cao tiếp cận khách hàng quốc tế mà không hoàn toàn phụ thuộc vào những kênh phân phối truyền thống. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), khai thác mạng xã hội như TikTok và xây dựng nội dung đa ngôn ngữ có thể giúp sản phẩm truyền tải rõ hơn nguồn gốc, quy trình sản xuất và giá trị văn hóa. Tuy nhiên, để tạo niềm tin lâu dài, hoạt động quảng bá vẫn cần dựa trên dữ liệu xác thực, chất lượng nhất quán và hệ thống truy xuất minh bạch.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, việc tham gia thường xuyên các hội chợ, triển lãm quốc tế cũng giúp doanh nghiệp nắm bắt xu hướng tiêu dùng xanh, sản phẩm hữu cơ và nhu cầu cá nhân hóa. Ông dẫn chứng tại World Expo Osaka (Nhật Bản), cà phê Việt Nam vẫn chưa được nhận diện rộng rãi do sự hiện diện thương hiệu còn hạn chế. Vì vậy, xúc tiến thương mại cần được triển khai liên tục, thay vì chỉ tập trung vào những sự kiện riêng lẻ.
Đối với Hợp tác xã Miến dong Tài Hoan, bà Trần Minh Anh cho biết đơn vị mong muốn tận dụng Chương trình GoGlobal theo Quyết định 626/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để nghiên cứu thị trường phù hợp, kết nối trực tiếp với nhà nhập khẩu và hệ thống bán lẻ nước ngoài, đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới, truyền thông số, đồng thời được tư vấn về pháp lý, kiểm nghiệm tiêu chuẩn và bảo hộ sở hữu trí tuệ tại thị trường quốc tế.
Về dài hạn, ông Nguyễn Minh Tiến cho rằng mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam lên 100 tỷ USD cần gắn với việc khai thác hiệu quả tiềm năng của Tây Nguyên, Tây Bắc và các tỉnh miền núi phía Bắc, thay vì chỉ dựa vào những vùng sản xuất truyền thống. Ông nhận định: "Nếu có cách tiếp cận đúng đắn cùng hệ sinh thái chính sách hỗ trợ đồng bộ trong giai đoạn 2026–2030 khi triển khai Chương trình GoGlobal, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ không còn là vùng khó khăn, mà sẽ trở thành động lực tăng trưởng mới".
Từ câu chuyện cây dứa ở Pu Lau đến những sản phẩm đặc sản có tiềm năng xuất khẩu, điểm chung là lợi thế tự nhiên chỉ thực sự phát huy khi được tổ chức thành hàng hóa, gắn với chuỗi cung ứng và thị trường phù hợp. Khi liên kết sản xuất, chế biến, phân phối và xây dựng thương hiệu được triển khai đồng bộ, nông sản vùng cao không chỉ mở rộng đầu ra mà còn có cơ hội nâng cao giá trị gia tăng, tạo sinh kế ổn định và đóng góp thiết thực vào tăng trưởng kinh tế địa phương.
Trần Huyền
Theo dõi Nông Dân Việt trên Facebook
Nhận giá cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và tin thị trường mới mỗi ngày.